Số lượt truy cập

vvvvvvv
vtoday.gifHôm nay12
vyesterday.gifHôm qua41
vweek.gifTuần này290
vmonth.gifTháng này861
vall.gifTất cả66810

Bảo tồn - Đa dạng sinh học

Đa dạng hóa sản xuất cây trồng trên vùng đệm ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long

PGS.TS Nguyễn Bảo Vệ Trường Đại Học Cần Thơ

Hệ sinh thái rừng ngập nước ven biển được chia thành 3 vùng: vùng rừng phòng hộ xung yếu, vùng đệm dọc theo tuyến đê quốc phòng, và vùng kinh tế. người nghèo ở vùng ven biển thường sinh sống nhờ vào việc khai thác nguồn lợi trong rừng phòng hộ, việc làm này có ảnh hưởng đến sự bền vững của rừng, do đó người dân cần được hướng dẫn phát triển sản xuất nông nghiệp để có sinh kế thay thế.

 

Vùng đệm ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) gồm 3 loại đất canh tác chính (a) đất ruộng, (b) đát giồng cát, và (c) đất líp. Nước ngọt cung cấp cho cây trồng trong vùng đệm chủ yếu là nước mưa trong mùa mưa và nước giếng trong mùa nắng. Bên cạnh đó nước ngọt dùng để tưới cho cây trồng trên vùng đệm lấy từ hai nhánh sông chính của sông Mê Kông là sông Tiền và sông Hậu. Trà Vinh và Bến Tre là những tỉnh nằm giữa hai nhánh sông trên nên lượng nước ngọt dùng để tưới cho cây trồng trong năm tương đối đầy đủ. Trong khi đó tỉnh Sóc Trăng nằm giáp bên cánh phải của sông Hậu, nên lượng nước ngọt lấy từ sông bị hạn chế và thời gian nhận nước ngọt ngắn hơn. Bạc Liêu và Cà Mau là hai tỉnh nằm xa sông Mê Kông nên không nhận được nước ngọt từ con sông này. Tuy nhiên, lượng mưa hàng năm ở Bạc Liêu và Cà Mau lớn. Hơn thế nữa, thời gian xâm nhập mặn cũng khác nhau ở các tỉnh vùng đệm: Trà Vinh, Bến Tre (2- 4 tháng), Sóc Trăng (4- 6 tháng), Bạc Liêu, Cà Mau (trên 6 tháng). Các điều kiện tự nhiên khác nhau tạo cho vùng đệm ven biển ở ĐBSCL có nhiều loại hệ sinh thái nông nghiệp.

 

Người dân vùng đệm chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp mà lúa và rau màu là cây trồng chính. Tuy nhiên, mức sống của họ còn thấp và việc phát triển nông nghiệp trong vùng chưa được ổn định và bền vững dẫn đến việc khai thác nguồn lợi của rừng để sinh sống.

 

Thu nhập và việc làm của người dân vùng đệm sẽ được cải thiện thông qua đa dạng hoá sản xuất, các kỹ thuật canh tác bền vững và các dịch vụ xúc tiến xã hội. Đa dạng sản phẩm nông nghiệp tăng khả năng bán được sản phẩm nông nghiệp và gia tăng thu nhập của nông dân. Do đó, cách giải quyết thích hợp và khả thi  để cho người dân không xâm hại rừng là đưa vào loại cây trồng phù hợp với vùng đệm và có giá trị kinh tế cao. Việc làm này sẽ giúp tăng thu nhập cho nông hộ, giảm nghèo, bảo vệ môi trường, hệ thống nong nghiệp- rừng bền vững hài hoà với cây trồng khác.

 

Mục đích sau cùng của đa dạng hoá cây trồng này là bảo vệ tài nguyên rừng ven biển, mà nó phụ thuộc chủ yếu vào vấn đề kinh tế của những hộ nông dân sống trên vùng này. Chính vì thế, nâng cao thu nhập cho những hộ này là vấn đề cốt yếu. do đó, cần phải (a) đa dạng hoá cây trồng trong vùng; (b) xác định giá trị kinh tế và khả năng thích nghi của những cây trồng này; (c) hướng dẫn kỹ thuật canh tác giống cây trồng trên vùng đệm thông quaa lớp tập huấn; (d) nhân rộng các mô hình nghiên cứu trên vùng đệm thông qua báo cáo khoa học và hội thảo.

Trong việc đa dạng hoá cây trồng vùng đệm ven biển bên cạnh những biện pháp tích cực như ngăn mặn, tiếp ngọt để duy trì sản xuất nông nghiệp, thì việc bố trí cây trồng phù hợp và hiệu chỉnh kỹ thuật canh tác cũng là một biện pháp rất hữu hiệu, linh hoạt có thể áp dụng nhanh, ít tốn kém và mọi người đều có thể làm được. biện pháp này bao gồm:

 

            -Bố trí lại mùa vụ để né mặn: thu hoạch sớm hơn để tránh mặn cuối vụ hoặc xuống giống muộn hơn để tránh mặn đầu vụ có thể được thực hiện bằng cách chọn giống cây trồng hoặc vật nuôi có chu kỳ sinh trưởng ngắn phù hợp với điều kiện mùa vụ mới. hiện nay có giống lúa 85 ngày, đậu 60 ngày, bắp 70 ngày, rau 50 ngày, cá, tôm… có chu kỳ sinh trưởng ngắn phù hợp cho việc bố trí lại mùa vụ.

 

- Chọn giống kháng mặn: chọn canh tác những loại cây trồng hoặc vật nuôi có khả năng kháng mặn để khi mặn tăng cao ít bị thiệt hại. Một số loại cây trồng chịu mặn tốt như bông vải (7,7 dS/m), lúa miến sorghum (6,8 dS/m), bí rợ (3,9 dS/m), đậu nành (5dS/m), đậu đũa (4,9dS/m)

 

- Thay đổi hệ thống canh tác: cây trồng được canh tác trong thời điểm có nước ngọt được luân canh với cá, tôm nuôi trong mùa có nước mặn hay lợ. Hiện nay, nông dân áp dụng hệ thống canh tác này như mô hình lúa- tôm sú, lúa- cá nước lợ…

 

- Trồng loại cây có nhu cầu nước ít: khi mặn xâm nhập thì nước ngọt phục vụ cho sản xuất trở nên khan hiếm, nên chọn trồng những loại cây có như cầu nước ít. Chẳng hạn như trồng lúa cần cung cấp nước nhiều gấp hai lần so với trồng lúa miến (sorghum) hay bắp.

 

- Tăng cường khả năng kháng mặn cho cây. Trong trường hợp cây bị nhiễm mặn, bằng biện pháp kỹ thuật canh tác có thể gia tăng khả năng kháng mặn cho cây như phun một số hoá chất lên lá, bón dưỡng chất đối kháng mặn, cung cấp phân bón qua lá, sử dụng màng phủ nông nghiệp và gia tăng độ ẩm trong vùng sản xuất.

 

Đa dạng hoá cây trồng phù hợp trên vùng đêm ven biển có thể được nghiên cứu qua những kiểu canh tác như sau:

 

1.      Canh tác lúa rẫy trên đất líp vuông tôm

 

Trên thế giới, lúa rẫy được trồng ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh. Ở Đông Nam Châu Á, lúa rẫy được canh tác khoảng 4,6 triệu ha, chiếm 13% tổng diện tích canh tác lúa của vùng. ở Việt Nam, lúa rẫy được trồng trên vùng đất cao, đồi núi. Cần có nghiên cứu trồng lúa rẫy trên đất líp vuông tôm của mô hình lúa- tôm.

 

Vùng đất ven biển có thể đưa lúa rẫy vào canh tác là vùng đất líp của mô hình canh tác lúa tôm. Đây là một mô hình canh tác phổ biến hiện nay ở nhiều nơi. Mô hình canh tác lúa- tôm là hệ thống canh tác đặc thù của những vùng bị nhiễm mặn theo mùa trong hơn 20 năm qua (Vệ và cs, 2005). Vào mùa mưa, đất được rửa mặn, đất ruộng ngọt hoá, đây là thời vụ trồng lúa. Các tháng còn lại đều bị nước mặn xâm nhập, ruộng lúa lại biến thành vuông tôm với phương thức lấy giống và thức ăn tự nhiên, nước mặn có chứa các ấu trùng của tôm bạc (Metapenaeus spp) có trong các hệ thống kênh, rạch, sông địa phương. Thực ra, trước đây, nước mặn đưa vào ruộng chỉ nhằm mục đích giữ chân ruộng ẩm để ngăn chặn sự oxy hoá tầng phèn (pyrite) dưới lớp đất mặt. về sau nông dân chú ý khai thác khả năng chứa nước và dinh dưỡng của ruộng để nuôi tôm dần dần tạo nên kỹ thuật xen canh lúa- tôm ở vùng ven biển. Nông dân đào mương đắp đê xung quanh ruộng lúa và có hệ thống cống dẫn nước và thoát nước.

 

Khi xây dựng lại ruộng lúa với hệ thống bờ và mương, hệ thống này lấy đi khoảng 30% diện tích ban đầu dành cho canh tác lúa. Qua thời gian, việc bồi lắng phù sa làm mặt ruộng cao lên và giảm diện diện tích thích hợp để canh tác kua1, thu dọn phù sa (sên mương, sớt lớp) rất tốn kém và dọn đi đâu cũng là vấn đề khó khăn. Nông dân đưa lớp phù sa này lên bờ làm cho bờ cao và rộng thêm hoặc lập thêm các bờ, líp (hay liếp) bên trong ruộng. việc này càng làm cho diện tích canh tác lúa giảm đi (Xuân, 1995). Tốc độ bồi lắng lớn ở vùng Bạc Liêu là nguyên nhân chủ yếu phá vỡ tính bền vững của mô hình lúa- tôm (Tuấn và cs, 1992). Kết quả nghiên cứu “so sánh hiệu quả kinh tế các hệ thống canh tác vùng nước lợ ĐBSCL của Trần Thanh Bé và Lê Cảnh Dũng (1997) cho thấy chi phí bồi lắng do phù sa phải trả để sên mương và sớt lớp chiếm tỷ lệ đáng kể, lên đến 17% tổng chi phí trong mô hình lúa- tôm.   

 

Với phương thức trồng lúa trong mùa mưa, rồi sử dụng ruộng lúa để nuôi tôm sú (Penaneus monodon) trong mùa khô, nông dân đã tạo ra nguồn thu nhập mới mà trước đây không thể có được trong mùa khô. Thông tin chi tiết về diện tích canh tác của hệ thống canh tác lúa- tôm ở cấp vùng không có sẵn mặc dù được cho rằng có hàng chục ngàn hecta vào những năm cuối thập niên 80 (Be, 1994). Đến năm 2000, diện tích canh tác lúa- tôm ở ĐBSCL đạt khoảng 40.000 ha (Preston và Clayton, 2003).

ở vùng ven biển cửa sông của các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre và Sóc Trăng, mô hình canh tác lúa- tôm cũng là một trong những mô hình canh tác rất đặc sắc với tính khả thi cao đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt và có sức hấp dẫn mạnh đối với người dân trong vùng và các địa phương lân cận, trở thành phương thức sản xuất của nhiều hộ nông dân. Nó cũng góp phần vào quá trình định hướng sản xuất cho người dân theo hướng phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao đời sống người dân.

 

Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện mô hình lúa- tôm, một số vấn đề về môi trường bắt đầu nảy sinh và gây ra mối quan ngại về tính bền vững của mô hình này (xuân, 1995). Nước mặn có thể xâm nhập vào đất canh tác lúa- tôm kéo theo nguy cơ suy thoái đất (Thuyên 1999). Các vấn đề môi trường không những làm ảnh hương đến sản xuất mô hình lúa- tôm của người dân mà còn gây nên những tổn thất về kinh tế và môi trường cua những vùng canh tác mô hình lúa- tôm.

 

Có một biến thể của mô hình canh tác lúa- tôm, bao gồm nhiều vụ lúa hoặc tôm, nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa vào mùa mưa và nuôi thêm gia súc, gia cầm hoặc trồng thêm các loại hoa màu khác trên hệ thống đê bờ (Xuân, 1995). Mô hình cây ăn trái trên bao đê của ruộng lúa- tôm được thực hiện thành công ở An Biên, Kiên Giang do điều kiện trồng ở đây thuận lợi (Vệ và cs, 2006)

 

Phần đất líp xung quanh và vuông lúa tôm cần được khai thác sử dụng. Đây là vùng đất màu mỡ, có nước ngọt là nước trời trong mùa mưa, nếu có giống lúa rẫy và rau màu phù hợp sẽ giúp cho người nuôi tôm tăng thêm thu nhập, giúp cho hệ thống canh tác lúa tôm thêm bền vững.

 

2.      Trồng cỏ làm nguồn thức ăn cho bò trong mùa khô hạn

Vùng ven biển hàng năm nắng hạn bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 5. trong những năm gần đây nông dân phải đối mặt với mặn, khô hạn thất thường, gây thiệt hại nghiêm trọng. Bên cạnh đó, ngành chăn nuôi gia cầm phải đối phó với khó khăn do dịch cúm gia cầm tăng. Nhiều nơi có chủ trương phát triển chăn  nuôi bò nhằm giúp đỡ thiết thực cho người dân ổn định cuộc sống. ngoài ra bò là con vật quên thuộc với người dân Khmer, thích nghi tốt với điều kiện đất cát, khô hạn và nhiễm mặn như ở Trà Vinh, Sóc Trăng nên bò đã được chọn là con vật chủ lực để xoá đói giảm nghèo.

 

Song song với việc phát triển đàn bò thì cỏ tươi cho bò gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó nguồn thức ăn chính là cỏ chỉ đáp ứng khoảng 65% trên tổng đàn. Thiếu thức ăn cho bò do nhiều nguyên nhân như: cỏ không sống được trong điều kiện hạn và mặn; người dân chưa có tập quán trồng cỏ nuôi bò nên thiếu chăm sóc; dân chưa biết cách chế biến thân bắp, thân đậu phộng, rơm rạ có sẵn tại địa phương thành thức ăn cho bò mà chủ yếu là thả lan để bò ăn cỏ mọc tự nhiên. Trong mùa nắng, đất bị nhiễm mặn, hạn hán như hiện nay thì thức ăn cho bò lại thiếu trầm trọng dẫn đến hiệu quả chăn nuôi thấp.

 

Đứng trước tình trạng trên, cần thiết phải đa dạng nguồn thức ăn trong chăn nuôi bò trên vùng mặn và khô hạn ở vùng ven biển nhằm tạo ra nguồn thức ăn ổn định, phù hợp với tài nguyên của vùng, thích hợp với trình độ và năng lực của cộng đồng để giảm nhẹ tác hại của mặn và hạn hán tác động đến sinh trưởng và phát triển của đàn bò ảnh hưởng trực tiếp kinh tế của cộng đồng. cần nghiên cứu giống cỏ Sporobolus virginicus canh tác ở vùng Đông Bắc Thái Lan được tưới bằng nước mặn để làm thức ăn cho trâu bò. Cây Salicornia bigelovii cho dầu ăn và thân làm thức ăn gia súc. Cây atriplex berclyana dùng làm thức ăn cho trâu bò, đều là các loài thích ứng vùng nước mặn (Hồng, 2009)

 

3.      trồng rau trong mùa mưa trên đất líp vuông tôm thiếu nước ngọt

 

trên những vùng đất vuông tôm có diện tích đất giữa các vuông tôm chiếm khoảng 30- 40% trên tổng diện tích đất canh tác. Với lượng đất hàng năm được nạo vét từ đáy vuông tôm bồi đắp, loại đất này có thể trồng được nhiều loại rau trong mùa mưa sẽ mang lại hiệu quả rất cao cho bà con nông dân. Trồng rau trên đất này sẽ giúp bà con tận dụng được hết diện tích đất canh tác, ổn định được điều kiện sản xuất (mùa nắng nuôi tôm, mùa mưa trồng các loại rau) phù hợp với điều kiện thời tiết tự nhiên của vùng, do đó giảm nhẹ được thiên tai, ổn định sản xuất, tăng thu nhập, góp phần nâng cao mức sống cho bà con nông dân trong vùng.

 

Để giới thiệu những kỹ thuật mới, mùa vụ cây trồng mới, ngắn ngày trồng trên vùng đệm, góp phần nâng cao cuộc sống của người dân, và có nền nông nghiệp bền vững trên vùng đệm, những cây rau sau đây có thể được thử nghiệm: ứng dụng giống mới và lưới che trong canh tác xà lách để đa dạng hoá hệ thống canh tác trên vùng đệm trong mùa mưa; sử dụng màng phủ nông nghiệp trong canh tác cây dưa leo để đa dạng hoá cây trồng vào mùa mưa trên vùng đệm; đa dạng hoá cây trồng bằng cây dưa hấu và khổ qua với kỹ thuật cố định dây trong canh tác vào mùa mưa ở vùng đệm; ứng dụng iện pháp trồng xen và rào chắn gió mặn trong canh tác ớt để đa dạng hoá cây trồng vào mùa mưa ở vùng đệm; sử dụng màng phủ chuyên dụng để sản xuất đậu phộng giống ở vùng đệm trong mùa mưa; áp dụng biện pháp líp cao trồng dưa leo hoặc khổ qua trên vùng đệm để đa dạng hoá cây trồng vào mùa mưa; đa dạng hoá cây trồng bằng cây dưa hấu với kỹ thuật trải lưới trong canh tác trên vùng đệm vào mùa mưa; áp dụng biện pháp làm giàn trồng dưa leo hoặc khổ qua để đa dạng hoá cây trồng vùng đệm vào mùa mưa

 

Để ứng dụng thành công những thành tựu của khoa học kỹ thuật trong sản xuất ở vùng đệm cần phải

-         sử dụng giống mới (hầu hết là F1) có năng suất cao, chống chịu được điều kiện mưa gió, mau cho trái, tỉ lệ trái thương phẩm cao;

-         trải màng phủ nông nghiệp hạn chế mất phân bón do bốc hơi và rửa trôi dưỡng chất trong mùa mưa, hạn chế một số loài sâu, bệnh.

-         Bổ sung hữu cơ (phân chuồng đã hoại mục hay phan vi sinh (trong giai đoạn bón lót để cải thiện sa cấu đât để canh tác được cây trồng trong mùa mưa.

-         Bón phân đúng thời điểm và đúng lượng theo nhu cầu của cây: vừa tiết kiệm được tiền phân bón nhưng vẫn đảm bảo sự phát triển của cây trồng. đặc biệt bổ sung thêm vôi (CaSO4) giúp đâu phộng phát triển tốt, tạo trái nhiều và hạt chắc là một trong những yếu tố quyết định năng suất cao.

-         Cây con được gieo trong bầu (bọc ni lông, khay hay ly nhựa) giúp giảm tỉ lệ hao hụt cây con khi đem cấy ra đồng, bộ rễ của cây con được đảm bảo tốt cho sự phát triển, đặc biệt đối với các giống lai F1 (cao sản)

-         Lên líp cao dạng hình mái vòm, mặc líp đủ rộng có đánh rãnh thoát nước kết hợp với sử dụng màng phủ đã tạo điều kiện tốt nhất cho bộ rễ phát triển trong điều kiện điện mưa dầm. Riêng đối với cây dưa hấu mặt líp được thiết kế rộng, có độ nghiêng thích hợp giúp cho cây dưa hấu phát triển tốt trong điều kiện mùa mưa;

-         Sử dụng lưới che cây xà lách, điều này tránh được mưa làm tổn thương đến lá (rách và giập). ngoài ra, lưới che cũng góp phần hạn chế sự tấn công của sâu hại;

-         dùng que ghim trên màng phủ để cố định cây dưa hấu, giúp cây con khi bỏ ngọn bò không bị gió xoay đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển của cây, và trải lưới ni lông cho dưa bò giúp dây không lật, xoay bởi gió. Kỹ thuật này giúp người dân yên tâm khi bố trí cây trồng theo kỹ thuật mới mặc dù hướng của cây dưa bò ngược chiều gió, điều này trước đây người dân chưa dám thực hiện.

-          một trong những kỹ thuật mới mà người dân chưa từng thực hiện là làm giàn thật vững chắc, cao, rộng kết hợp căng lưới cho dưa leo và khổ qua bò. Kỹ thuật này giúp người dân yên tâm khi bố trí cây trồng theo kỹ thuật mới mặc dù hướng của dây dưa bò ngược chiều gió, điều này trước đây người dân chưa dám thực hiện.

-         Sử dụng bao chuyên dụng hoặc bao ni lông để bao trái khổ qua đã góp phần hạn chế đáng kể thiệt hại do ruồi đục trái gây ra, do đó tăng chất lượng của sản phẩm.

-         Tỉa nhánh: mỗi cây dưa hấu chỉ chừa một dây chính và hai dây phụ, sau đó tuyển trái mỗi dây dưa chỉ chừa một trái to nhất, tạo thông thoáng cho ruộng dưa hạn chế sự phát triển sâu bệnh, tập trung dinh dưỡng nuôi trái. Đối với ớt, tiến hành tỉa bỏ tất cả nhánh nằm dưới vị trí phân cành. Điều này giúp tăng lên tỉ lệ trái thương phẩm nhiều hơn so với phương pháp trồng truyền thống;

-         Kê trái trong canh tác dưa hấu được thực hiện giúp trái tránh bị thối khi mưa dầm, đảm bảo tỉ lệ trái thương phẩm cao.

 

4.      trồng mía đường công nghiệp

 

mía là loại cây trồng có giá trị thương mại quan trọng, nó là nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp đường. ba tỉnh ven biển Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng đều có nhà máy đường. Vùng đệm ven biển ở những tỉnh này thích hợp trồng mía đường lưu gốc, mà một trong những biện pháp tăng năng suất và trữ đường ở đây là phải cải thiện giống. một giống mía tốt phải xét cả hai yếu tố là năng suất trên một đơn vị diện tích và phần trăm hiệu suất thu hồi đường. chính vì vậy mà trên thế giới, giống mía mới cải tiến đã ra đời sớm từ những năm đầu của thế kỷ trước và đã thực sự cải thiện năng suất và nâng cao chữ đường của mía ở nhiều quốc gia như Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Úc, Cuba, Thái Lan… năng suất mía đường bình quân của các quốc gia này tăng gần gấp đôi trong vòng 50 năm gần đây…

 

ở nước ta, ngày 15/02/2007, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 26/2007/QĐ- TTg phê duyệt “quy hoạch phát triển mía đường đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”. Theo đó, đến năm 2010, vùng mía nguyên liệu của ĐBSCL đạt diện tích 52000 ha, có năng suất mía bình quân 65 tấn/ ha và chữ đường 11 CCS. Quy hoạch cũng định hướng đến năm 2020, năng suất mía bình quân đạt 80 tấn/ha, chữ đường bình quân 12 CCS

 

Để đạt được chỉ tiêu trên, giải pháp về giống cũng được đề ra trong quy hoạch như sau:

-         Thực hiện các giải pháp đồng bộ về giống để tăng nhanh năng suất, chất lượng mía;

-         UBND các tỉnh có nhà máy đường chỉ đạo các nhà máy và các cấp nhân nhanh diện tích mía giống mới có năng suất, chữ đường cao;

-         Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn  sớm triển khai và hoàn thành Đề án nhân giống mía 3 cấp “Phát triển giống mía cho vùng nguyên liệu các nhà máy đường giai đoạn 2003- 2008”; xây dựng hệ thống viện nghiên cứu và các trung tâm giống mía đủ điều kiện trang thiết bị và năng lực cán bộ để chủ động sản xuất giống tốt, có năng suất, chữ đường cao đáp ứng yêu cầu sản xuất. đồng thời với việc nghiên cứu, chọn tạo giống, có chương trình, kế hoạch nhập khẩu giống mía có năng suất, chữ đường cao để khảo nghiệm và nhân nhanh các giống mía qua khảo nghiệm được đánh giá tốt phù hợp với Việt Nam;

-         Tăng cường công tác khuyến nông (khuyến nông nhà nước, khuyến nông của doanh nghiệp), đào tạo, hướng dẫn, xây dựng mô hình để chuyển giao nhanh giống mới, phương pháp canh tác tiên tiến, tiến bộ khoa học và công nghệ cho nông dân. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, các địa phương dành nguồn kinh phí ngân sách từ chương trình giống cây trồng, giống vật nuôi và giống thuỷ sản cho việc phát triển giống mía theo dự án đã được phê duyệt và khuyến nông cây mía.

-         Ngân sách nhà nước hỗ trợ nhập khẩu và nhân giống mía mới.

 

Với nội dung các giải pháp nêu trên trong quy hoạch cho thấy tầm quan trọng của giống trong việc nâng cao năng suất và cải thiện chữ đường của mía ở nước ta. ở ĐBSCL, trong những năm qua, nếu không có sự thay đổi những giống mía cũ bằng những giống mía mới có năng suất và chữ đường cao thì cây mía không thể nào cạnh tranh nổi với những loại cây trồng khác và không thể nào trụ được trên vùng đất này trong thời hội nhập kinh tế thế giới.

 

Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc đầu tư cho giống mía mới, cải tiến kỹ thuật canh tác và khuyến nông về cây mía của các ngành chức năng ở những tỉnh có vùng nguyên liệu mía ở các tỉnh ĐBSCL chưa tương xứng với tiềm năng của cây mía. Ngoài ra, để giúp cho người nông dân cải tiến giống mía một cách thường xuyên thì cần có những chính sách hỗ trợ cho nông dân. Do vậy, việc lai tạo, du nhập giống mía mới và việc tuyển chọn giống cho phù hợp với từng vùng sinh thái của ĐBSCL đã được các nhà quản lý, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp quan tâm đúng mức và đưa nhanh các giống mới vào sản xuất. nông dân đã bỏ dần những giống cũ năng suất thấp, nhiễm sâu bệnh như Hoà Lan Tím, Huê Kỳ, Comus… chuyển sang trồng những giống mới có năng suất và chữ đường cao, kháng sâu bệnh tốt.

 

Bên cạnh giống, cần có những nghiên cứu về biện pháp canh tác như kỹ thuật đào hộc mía, chủ động hom giống, bón phân, làm cỏ, bảo vệ thực vật, giảm thất thoát chữ đường sau thu hoạch và đặc biệt là phải có những chương trình nghiên cứu về cơ giới hoá ngành trồng mía. Hiện nay, người nông dân trồng mía ở ĐBSCL chỉ áp dụng biện pháp thủ công để chế biến nên hiệu quả kém.

 

5.      trồng điều cao sản trên đất giồng cát khô hạn ven biển

 

giồng cát được hình thành do thuỷ động và gió. Khi bãi thuỷ triều cát phơi bày ra khí trời, vào mùa nắng gió, mặt cát khô đi, gió thổi cát di chuyển tạo thành những lượn cát có kích thước hạt nhỏ(0,25- 0,5 mm), nằm thành đụn cao 2-5 m, thậm chí đến 10m có thực vật bao phủ. Đất giồng cát nằm trên địa hình cao nhờ vậy mà mực thuỷ cấp luôn ở sâu trong đất và không bị ngập lũ ngay cả trong mùa mưa. Có thể nói tầng canh tác của đất giồng rất sau thích hợp cho bộ rễ cây trồng cạn phát triển.

 

Mùa mưa không bị ngập và tầng canh tác dầy là một thế mạnh của đất giồng để canh tác cây lâu năm như cây ăn trái và cây công nghiệp. vì không phải đào mương lên líp nên không mất đất và dễ dàng cơ giới hoá trong các khâu chăm sóc, và chắc chắn giá thành sản phẩm sẽ thấp hơn những vùng khác. Tầng canh tác dầy sẽ giúp cây sống lâu hơn, điền này có ý nghĩa là cho phí cho kiến thiết cơ bản vườn một lần nhưng thời gian thu lợi được dài hơn.

 

Đất giồng cát có hàm lượng cát có thể chiếm đến 60- 80%  ở đỉnh giồng từ 30- 50%  ở chân giồng. bất kỳ loại đất nào cũng chứa 3 thành phần là sét, thịt và cát. Cát là thành phần có kích thước hạt to từ 0,02 đến 2mm. đất nào có nhiều cát thì đất đó có nhiều lỗ rỗng to. Lỗ rỗng to chứa không khí giúp cho đất thông thoáng, rút nước nhanh. Sét là những hạt có kích thước rất nhỏ dưới 0,002 mm. đất nhiều sét có nhiều lỗ rỗng nhỏ. Lỗ rỗng nhỏ chứa nước, nên đất ít thông thoáng và thoát nước kém.

 

Đặc tính thông thoáng, tơi xốp của đất giồng cát rất thích hợp cho bộ rễ của cây trồng cạn và cây lấy củ phát triển, và đặc tính thoát nước tốt giúp cho cây không bị ngập úng, thiếu không khí cho rễ thở vào mùa mưa. Tuy nhiên, thoát nước nhanh cũng là điều bất lợi vì làm cho đất không giữ được nước sau khi tưới,kéo theo sự mất phân do thấm lậu và rửa trôi. Do đó, canh tác trên đất giồng phải có kỹ thuật bón phân và tưới nước cho phù hợp với vùng đất này.

 

Trên giồng cát hiện diện rất nhiều loại cây trồng lâu năm như: xoài, vú sữa, điều… trong đó cây điều là loại cây chiếm diện tích khá lớn, đây là loại cây chịu hạn tốt, thích nghi với loại đất giồng cát thiếu nước tưới nhất là trong mùa nắng. ngoài ra, đây là một trong những cây công nghiệp được ngành nông nghiệp định hướng phát triển để hình thành vùng nguyên liệu cung cấp cho nhà máy chế biến hạt điều.

 

Điều được đánh giá là cây của người nghèo vì mức đầu tư rất thấp nhưng có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao, vả lại đây là cây có thể trồng ở nhiều loại đất khác nhau và là cây chịu hạn khá tốt nên rất thích hợp ở vùng đất giồng cát. Hiện nay người nông dân trồng điều chưa chưa đầu tư chăm bón và phòng trừ sâu bệnh đúng mức, đặc biệt là giai đoạn ra hoa đậu trái, nên hiệu quả trồng điều chưa cao.

 

Trong vùng có những giống điều có những đặc tính rất tốt như trái sai (3- 5 trái/ chùm), hột khá lớn 150- 170 hột/kg, do vậy cần thiết có những cuộc bình tuyển để chọn ra những cây đầu dòng để nhân giống vô tính phục vụ cho nhu cầu mở rộng diện tích cây điều. phòng trừ sâu bệnh hại điều trong giai đoạn ra hoa, đậu trái, kích thích cho cây điều ra hoa đồng loạt cũng như đầu tư thêm một ít phân bón giúp cho cây phát triển tốt hơn thì năng suất cây điều có thể tăng lên rất nhiều. do đó, cải thiện giống, thâm canh và phòng trừ sâu bệnh là những hướng phát triển để cải thiện năng suất và tăng thu nhập cho người dân trong vùng.

 

Tuy nhiên, hiện trạng vườn điều của người dân nơi đây phần lớn trồng giống địa phương, cây đã bị lão hoá cho năng suất không cao. Nông dân trồng điều chưa đầu tư chăm bón và phòng trừ sâu bệnh đúng mức, đặc biệt là giai đoạn ra hoa đậu trái, nên hiệu quả trồng điều chưa cao. Do vậy, mở rộng đầu tư trồng mới với những giống mới cao sản kết hợp với các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại điều trong giai đoạn ra hoa, đậu trái, kích thích cho cây điều ra hoa đồng loạt cũng như đầu tư thêm phân bón giúp cho cây phát triển tốt là hướng để khắc phục khó khăn hiện tại của bà con nơi đây.

 

Đây là một hướng để giải quyết giúp bà con trong vùng gia tăng thu nhập trên vùng đất gặp khó khăn trong mùa hạn, giúp giảm nhẹ được phần nào khó khăn do thiếu nước gây ra.

 

6.      Trống lúa, nuôi cá hay lúa- cá trong mùa mưa trên vùng đất nuôi tôm ven biển

 

vùng ven biển có diện tích nuôi tôm sú khá lớn trong mùa nắng. vào mùa mưa nước không đủ mặn để nuôi tôm vì thế diện tích đất này người dân không nuôi tôm và thường để đất trống. điều này dẫn đến hiện tượng khi trời nắng đáy ao không có nước nên đất nứt nẻ và từ đó khi đưa nước mặn vào nuôi tôm, nước mặn sẽ thấm dần xuống tầng đất bên dưới, qua nhiều năm canh tác như vậy thì tầng đất canh tác sẽ trở nên nhiễm mặn. hậu quả nghiêm trọng về lâu dài là đất sẽ bị mặn hoá, mất câu trúc và khó cải tạo để trồng cây.

 

Trước tình hình trên trong mùa mưa cần phải bố trí một vụ canh tác trên nền ao tôm, có nhiều mô hình canh tác để chọn như: chỉ trồng lúa, lúa kết hợp với cá, hay chỉ nuôi cá. Các mô hình này ngoài tác dụng ngăn chặn sự mặn hoá như đã nói trên, còn góp phần tăng thu nhập cho người nông dân trong mùa mưa và vừa có thể giảm nhẹ khó khăn do rủi ro trong sản xuất.