Số lượt truy cập

vvvvvvv
vtoday.gifHôm nay7
vyesterday.gifHôm qua50
vweek.gifTuần này379
vmonth.gifTháng này1099
vall.gifTất cả61323

Bảo tồn - Đa dạng sinh học

Bảo tồn đa dạng sinh học để phát triển bền vững đồng bắng sông Cửu Long (Phần tiếp theo)

ĐDSH đang chịu nhiều thách thức. Do đó chúng ta cần phải đẩy nhanh trương trình bảo tồn đa dạng sinh học.

GS.TS Đoàn Cảnh

Nghiên cứu viên cao cấp Viện Sinh học nhiệt đới- TP-HCM

 (Xem phần trước: click vào đây)

ĐDSH đang chịu nhiều thách thức

Khai thác quá mức phục vụ phát triển kinh tế xã hội: hoạt động khai thác các giá trị của môi trường nói chung và của ĐDSH nói riêng phục vụ cuộc sống xảy ra từ khi con người hình thành trên trái đất này. Tuy nhiên, xã hội càng phát triển thì mâu thuẫn giữa phát triển và môi trường mới nảy sinh và được quan tâm. Đây là mối tương tác giữa môi trường là địa bàn và đối tượng của phát triển và phát triển, nói đầy đủ là phát triển KT- XH, là quá trình sử dụng và làm thay đổi tích cực hoặc tiêu cực đối với môi trường. Về nguyên tắc, môi trường và phát triển tương tác chặt chẽ với nhau và có xu hướng đạt đến cân bằng mới. tuy nhiên trên thực tế, hoạt động phát triển với mục tiêu nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người bằng phát triển sản xuất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng hoạt động văn hoá đã luôn làm mất cân bằng theo hướng bất lợi đối với môi trường thông qua việc làm thay đổi cấu trúc và chức năng  vốn ổn định của chúng.

Một cách tổng quát, hệ tự nhiên hay một hệ sinh thái luôn tồn tại trong cấu trúc và thực hiện chức năng xác định. Hai thuộc tính này có quan hệ chặt chẽ với nhau. Một khi sự nguyên vẹn của cấu trúc bị thay đổi trong giới hạn chịu đựng thì hệ tự nhiên có khả năng tự điều chỉnh và ngược lại. Khi khai thác sử dụng các thành phần cơ bản của môi trường là đất- nước- tài nguyên- sinh vật không phù hợp sẽ phải đón nhận nguy cơ mất đi sự ổn định của cấu trúc và thay đổi chức năng vốn có của hệ và hậu quả sẽ được nhận biết qua biến đổi của ĐDSH.

Các hoạt động phát triển KT- XH, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp đã tác động mạnh mẽ đến ĐDSH ở ĐBSCL mà biểu hiện dễ thấy là phá vỡ cấu trúc tự nhiên của đất. vào cuối thế kỷ 19, diện tích đất canh tác nông nghiệp ở vùng này chỉ chiếm khoảng 10% diện tích tự nhiên, tập trung chủ yếu ở vùng đất phù sa ven sông Tiền và sông Hậu. Năm 1976, diện tích canh tác lúa là 2,062 triệu ha và sản lượng đạt 4,665 triệu tấn, đến năm 2004 diện tích canh tác lúa là 3,815 triệu ha và sản lượng đạt 18,57 triệu tấn và đến nay xu hướng đó vẫn không thay đổi. Tác động rõ rệt nhất là việc đắp đê bao, đào hệ thống kênh mương ngang dọc, gồm kênh cấp 1, kênh cấp 2 và kênh cấp 3, đã chia cắt ĐBSCL thành nhiều ô nhỏ. Hệ thống thuỷ lợi phát triển đến đâu thì diện tích đất gieo trồng lúa phát triển đến đó. Việc tôn nền đất ở, làm đường giao thông tránh lũ và lên líp trồng cây đã tạo nên những thay đổi về địa hình và tính chất của đất. Có khoảng 15% diện tích tự nhiên của ĐBSCL được tôn cao để xây dựng các công trình chuyên dùng và trồng cây lâu năm. Ở một số nơi, người dân đã đưa nước mặn vào đồng để tự ý chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản, khi việc nuôi trồng thuỷ sản thất bại, đất đã bị nhiễm mặn không thể cải tạo để canh tác nông nghiệp được. Cùng với quá trình đó là sư biến dạng rất rõ nét của ĐDSH.

 

Ảnh hưởng của sự gia tăng tác động quá mức từ thượng nguồn: chủ yếu là hệ thống đập: Nước là thành phần đặc biệt quan trọng trong cấu trúc cơ thể các sinh vật và tương tự như vậy đối với cấu trúc của các hệ sinh thái. Cho nên nước là yếu tố sống còn có giá trị chi phối đến sự tồn vong của ĐDSH. Cuộc sống của thiên nhiên và con người ở ĐBSCL phụ thuộc chặt chẽ vào tình trạng sức khoẻ của sông Mê Công. Nhưng hình như chúng ta chưa có sự quan tâm đầy đủ, cần thiết và kịp thời về vấn đề này khi cách đây hơn nửa thế kỷ các nước thượng nguồn đã có kế hoạch chia sẻ nguồn nước này sang lưu vực khác vốn là điều cấm kỵ và có những kế hoạch khổng lồ chắn dòng khai thác thuỷ điện. Các hệ tự nhiên luôn là sản phẩm của quá trình tiến hoá thích nghi qua hàng trăm, hàng nghìn năm dưới tác động của môi trường luôn biến đổi nhưng có quy luật tự nhiên nhất định theo không gian và thới gian. Do vậy không dễ đổi thay tuỳ tiện.

Theo tổ chức môi trường International Rivers (Mỹ), hiện có khoảng 400.000 con đập, hầu hết được xây trong 50 năm qua, đang chắn các con sông trên thế giới. Hồ chứa nước của các con đập hiện chiếm hơn 400.000 km2 diện tích mặt đất. Một con đập lớn dựng trên sông sẽ phá vỡ mối liên hệ tự nhiên giữa con sông và vùng đất nó chảy qua, tác động đến toàn bộ lưu vực sông và hệ thống sinh thái nó hỗ trợ. Hệ sinh thái sống và đồng bằng thích nghi chặt chẽ với chu kỳ lũ của con sông. Động thực vật dựa vào lũ để sinh sản, ấp trứng, di trú. Lũ hàng năm đưa dưỡng chất vào đồng đất. Tác động với cường độ lớn và thời gian ngắn như việc xây đập ở thượng nguồn sông nêu trên thì không có sinh vật cũng như hệ sinh thái ven sông nào có thể thích nghi kịp. Đối với chúng đó chỉ là thảm hoạ của sự sống còn.

Nhận đinh về các kế hoạch khai thác sông Mekong của Trung Quốc, Tyson Roberts thuộc Viện Nghiên Cứu Nhiệt Đới Smithsonian (Mỹ) đã phát biểu: “xây các đập thuỷ điện, khai thông thuỷ lộ, với tàu bè thương mại quá tải sẽ giết chết dòng sông. Các bước khai thác của Trung Quốc sẽ làm suy thoái hệ sinh thái, gây ô nhiễm tệ hại, khiến con sông Mekong đang chết dần, cũng giống như con sông Dương Tử và các con sông lớn khác của Trung Quốc”. Các đập thuỷ điện ở Trung Quốc và các hồ chứa ở Thái Lan, Lào và Campuchia sẽ làm chậm tốc độ dòng chảy thiên nhiên của sông, làm bồi lắng một lượng phù sa lớn tại hồ, thay đổi động lực dòng chảy gây xói lở các đoạn sông hạ lưu. Đập là những chướng ngại sinh thái chắn đường di cư làm thay đổi chế độ sinh trưởng và chu trình sinh sản của các loài thuỷ sản, tác động đến sinh kế của người dân ven sông. Sự thay đổi dòng chảy kéo theo sự thay đổi cấu trúc và chức năng của các hệ sinh thái thuỷ vực mà hậu quả là tác động mang tính huỷ diệt đối với các loài thuỷ sinh. Điều này chúng ta đã thấy qua những khảo sát gần đây với việc giảm đáng kể sản lượng cá và lượng phù sa màu mỡ gây ra hiệu ứng làm xói mòn, sạt lở đất ở tại ĐBSCL, gây nguy hiểm đối với các khu dân cư sống ở hạ lưu.

Một Uỷ ban thế giới về Đập có tên là “World Commission on Dams” đã được thành lập năm 1998 để nghiên cứu và đưa ra các đánh giá về tác động tiêu cực của đập và các khuyến cáo cần thiết. Sau 4 năm nghiên cứu hàng nghìn đập trên thế giới (có 2 đập ở Việt Nam), Uỷ ban này đã đưa ra 7 nguyên tắc chiến lược khi xây dựng đập cần thực hiện là:

1.      Cần có sự chấp nhận của công chúng

2.      Cần đánh giá toàn diện các phương án khác nhau có thể

3.      Đánh giá về tác động của các đập hiện có

4.      Bảo đảm bền vững cho con sông và sinh kế cho người dân

5.      Công nhận quyền và chia sẻ lợi ích

6.      Đảm bảo tuân thủ (pháp lý quốc tế, khu vực, quốc gia, quy trình…)

7.      Sử dụng các sông  vì mục đích hoà bình, phát triển và an ninh

 

Tác động của biến đổi khí hậu đã nhãn tiền, nhưng sẽ còn nặng nề hơn trong tương lai gần:  Ngoài mực nước biển sẽ dâng cao nhấn chìm mọi bờ biển, các lục địa sẽ phải chịu những đợt hạn hán khắc nghiệt kéo dài, các cơn lốc, bão, mưa lớn, lũ lụt hoành hành, riêng tác động của nhiệt độ trái đất tăng lên nhanh chóng làm cho các loài động, thực vật sẽ không kịp thích nghi với những thay đổi của hệ sinh thái. Việt Nam được xem là một trong những nước sẽ bị tác động mạnh nhất của BĐKH mà chủ yếu sẽ diễn ra tại các vùng thấp bao gồm đồng bằng sông Hồng và ĐBSCL, các vùng ven biển và rừng nội địa. Hệ thống RNM và ĐNN, các rạn san hô gần bờ rất nhạy cảm, rừng nội địa, những nơi đang bị tàn phá nặng nề, dưới tác động của BĐKH sự suy thoái sẽ diễn ra nhanh hơn.

BĐKH là một thảm hoạ hiện hữu, có phạm vi tác động toàn cầu nhưng biểu hiện khác nhau ở từng địa phương, gắn chặt với an ninh đến mức được gọi là “An ninh khí hậu- Climate Security”, thậm chí còn được đánh giá là nguy hiểm hơn cả “chiến tranh lạnh”. Bởi nó dẫn tới tranh chấp, xung đột tài nguyên môi trường, nghèo đói, dịch bệnh và tị nạn môi trường.

ở một góc nhìn khác nhưng vẫn liên quan đến ĐDSH, đó là BĐKH còn tạo cơ hội cho chiến tranh sinh thái thông qua việc sử dụng các vũ khí sinh thái “ăn theo” các nhiễu loạn do BĐKH tạo ra. Những thế lực thù địch có thể bằng nhiều cách đưa vào trong nước đối phương các giống sinh vật lạ có sức cạnh tranh cao (kiểu như cây mai dương- Mimosa pigra, hoa ngũ sắc, hay ốc bươu vàng…), các nhóm vi trùng gây bệnh, các gen gây bệnh (vũ khí gen) có khả năng chọn đối tượng để gây hại hoặc tiêu diệt. Vũ khí sinh thái có nhiều ưu thế hơn các vũ khí thông thường ở trình độ công nghệ cao, dễ vận chuyển, bí mật, gây hại sau một thời gian xâm nhập dài, gây hại lâu dài khó khắc phục, có thể lan truyền qua đường biển, theo các dòng sông xuyên biên giới, theo hành lý khách du lịch hay các container phế liệu, hàng hoá nhập khẩu. Vũ khí sinh thái sẽ thực hiện thành công các phi vụ mà những biện pháp chống phá thông thường không ngăn cản nổi. Chiến tranh sinh thái là chiến tranh công nghệ cao và là cuộc chiến không bao giờ được tuyên bố, tạo ra những thách thức to lớn cho những nước đang phát triển có trình độ công nghệ cỏn lạc hậu. Nhiễu loạn kinh tế và xã hội do BĐKH gây ra có thể tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động này.

Rất dễ xảy ra xung đột quyền sử dụng nước các dòng sông xuyên biên giới luôn luôn căng thẳng, với thế thượng phong luôn luôn thuộc về những quốc gia thượng nguồn và quốc gia hạ lưu luôn phải nhượng bộ nếu không muốn khởi phát xung đột nóng kiểu Trung Đông. Việt Nam sẽ ứng xử như thế nào về nguồn nước sông Hồng và sông Cửu Long? Ông Hansen Nobber, Giám đốc Viện nghiên cứu Môi trường Posdam- CHLB Đức- cho rằng BĐKH có thể dẫn tới chiến tranh toàn cầu vì nạn di dân tìm đất sống. Nếu không ngăn chặn được hiện tượng khí quyển nóng lên thì những nước kém tổ chức sẽ sụp đổ.  

Như vậy, BĐKH  trước hết gây ra các biến động không có lợi về môi trường, gây khủng hoảng sinh thái, từ đó dẫn đến các vấn đề nan giải về an ninh quốc gia. Trong số những vấn đề đó, cần phải tính đến sự xung đột tranh giành nguồn nước trên các dòng sông xuyên biên giới, nghèo đói và xáo trộn trật tự an toàn xã hội, tị nạn môi trường trên diện rộng trong nước và quốc tế, và vấn đề sử dụng các yếu tố sinh thái cho các cuộc cạnh tranh kinh tế không loại trừ cho các cuộc xung đột không tuyên bố.

 

Đã đến lúc chúng ta phải chuyển từ khai thác để phát triển sang chiến lược bảo tồn để phát triển. Đất nước ta đang đi vào con đường hội nhập, đòi hỏi phải có chiến lược phát triển chủ động, bền vững, trước mắt cũng như lâu dài. Để phát triển kinh tế- xã hội đúng hướng đòi hỏi phải xây dựng chiến lược phát triển các ngành, các lĩnh vực, trong đó có chiến lược quản lý tài nguyên nước và lưu vực sông. Quản lý tổng hợp tài nguyên nước và quản lý tổng hợp lưu vực sông gắn kết chặt chẽ với bảo tồn ĐDSH, mà cụ thể là thúc đẩy việc bảo vệ rừng, trồng rừng, sử dụng hợp lý đất đai, củng cố và quản lý tốt các khu bảo tồn thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm và xoá đói giảm nghèo.

Mỹ là quốc gia đầu tiên thành lập Trung tâm nghiên cứu An ninh môi trường (ANMT) và đến nay trên thế giới đã có đến gần 40 tổ chức nghiên cứu về ANMT, riêng ANMT liên quan đến BĐKH cũng đã được nghiên cứu rầm rộ khoảng 15 năm qua. Nghiên cứu về ANMT ở nước ta lại là lĩnh vực còn rất mới mẻ. BĐKH đặt ra bài toán mới về An ninh môi trường không thể giải được bằng các phương pháp an ninh truyền thống, trong đó đặc biệt lưu ý đến những vấn đề liên quan đến ĐDSH của cấp vùng vá cấp quốc gia; nói một cách khác, vấn đề ANMT còn sẽ được giải quyết từ kết quả của các hoạt động bảo tồn ĐDSH. Do vậy, nên chăng, Cục canh sát Môi trường có thêm chức năng đảm bảo an ninh ĐDSH.

 

Hoạt động đáp ứng

Trong tham luận này người viết không tham vọng sẽ nêu đầy đủ các nội dung của hoạt động bảo tồn ĐDSH để phát triển bền vững ĐBSCL vì đó là công việc lớn và không đơn giản. trung thành với mục tiêu của diễn đàn này, người viết chia sẻ ý tưởng hình thành Khu Dự trữ sinh quyển ĐBSCL và nhấn mạnh thêm một số hoạt động đáp ứng mang màu sắc ĐBSCL.

Theo phân tích ở các phần đã được trình bày có thể nhận biết ĐDSH ở ĐBSCL còn chưa được kiểm kê một cách đầy đủ và có hệ thống, mặc dù vùng hạ lưu của vùng MêCông đã thay đổi nhiều dưới tác động của hệ tự nhiên biến đổi sâu sắc về cấu trúc và dưới tác động quá mức của các hoạt động phát triển kinh tế xã hội. Quy hoạch phát triển chưa lồng ghép với quy hoạch môi trường nói chung và quy hoạch bảo tồn ĐDSH nói riêng mà hâu quả là suy giảm tài nguyên sinh vật, biến đổi hệ sinh thái theo chiều hướng không như mong đợi. Cuộc chơi Domino  giữa quy hoạch phát triển và hệ tự nhiên diễn ra chưa có hồi kết và thường là con người phải tiếp tục trả nhiều giá đắt, cho nên cần tính toán thêm về hiệu quả kinh tế và đời sống của các hoạt động phát triển. Một ví dụ có thể tham khảo đó là công trình đập Ba Lai.

Để ngăn mặn và giữ ngọt công trình cống Ba Lai trên cửa sông Ba Lai đang được triển khai. Đã nhiều năm trôi qua và do nhiều nguyên nhân khác nhau mà 5/6 hạn mục chưa được thực hiện. Trong khi đó các hậu quả môi trường không mong đợi diễn ra khá nghiêm trọng và đã được đầu tư tiếp để khắc phục chúng. Nhưng rồi sẽ về đâu khi hiểu biết của chúng ta về hệ sinh thái cửa sông này còn quá ít, không đủ để dự báo chính xác những vấn đề môi trường và tài nguyên như nhiễm mặn, bồi lắng, xói lở, biến đổi ĐDSH khu bảo tồn Vàm Hồ v.v… Nghiên cứu ĐDSH, hiểu theo nghĩa rộng, phải tiến thêm một bước dài để phục vụ cho những mục tiêu phát triển tương tự như vậy đang diễn ra ở khắp mọi nơi.

Từ thực tiễn đó, bài toán “sử dụng, bảo tồn và phát triển” luôn là vấn đề thời sự, nhưng đối với ĐBSCL trong hoạt động bảo tồn ĐDSH cần thể hiện rõ bước chuyển giai đoạn từ khai thác sử dụng để phát triển sang thời kỳ bảo tồn để phát triển và phát triển gắn kết với bảo tồn, sao cho “các quá trỉnh sinh thái học mà sự sống phụ thuộc vào đó được duy trì và chất lượng cuộc sống hiện tại cũng như tương lai được tăng lên”

      Tương tự như ở các vùng trọng điểm kinh tế khác và hơn thế ĐBSCL sẽ là Khu Dự trữ sinh quyển tương lai, một kế hoạch hành động về ĐDSH cần sớm được xây dựng. Trong việc này người thực hiện sẽ gặp thuận lợi lớn vì Cục Môi trường vừa mới ban hành “Hướng dẫn thực hiên kế hoạch hành động ĐDSH”, tuy là cho các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương (năm 2008) nhưng vẫn hữu dụng, nhằm thực hiện  Quyết định số 79/2007/ QĐ-TTG ngày 31/05/2007 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt về “Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện công ước đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học”.

Kế hoạch hành động bảo tồn ĐDSH (sau đây viết tắt là BAP) của khu vực ĐBSCL sẽ được xây dựng theo nguyên tắc lồng ghép với các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội phục vụ phát triển bền vững, nâng cao phúc lợi của con người phù hợp với đặc trưng các yếu tố tự nhiên của ĐBSCL, bao quát các nội dung của công ước quốc tế, pháp lý Nhà nước các cấp và có sự tham gia của cộng đồng.

Nội dung của BAP thể hiện đầy đủ các nhiệm vụ theo tinh thần Quyết định 79 của Thủ tướng chính phủ. Trong đó, nhiệm vụ nâng cao chất lượng của các nghiên cứu hiện trạng ĐDSH nhất là các giá trị định lượng, nhưng không dừng ở mô tả hiện trạng mà đi dần vào nghiên cứu các hoạt động chức năng của các vùng cảnh quan, các hệ sinh thái làm cơ sở khoa học cho các dự án, chương trình phát triển. Trên cơ sở phân tích đầy đủ các thách thức, xây dựng các nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu phát triển vừa thích ứng có hiệu quả với áp lực khai thác từ thượng nguồn và với tác động tiêu cực của BĐKH sẽ diễn ra trên vùng đất nhạy cảm này.

Chiến lược phát triển kinh tế biển đòi hỏi nhanh chóng khắc phục tình trạng nghiên cứu ĐDSH chỉ để khai thác tài nguyên biển chứ chưa là để phát triển cả một ngành kinh tế đang là thế mạnh của ĐBSCL nói riêng và của cả nước nói chung

Các phần tiếp theo của BAP sẽ là các giải pháp, tổ chức thực hiện và đề xuất các dự án ưu tiên bảo tồn ĐDSH vì phát triển và thích ứng với các áp lực đang trở thành thử thách khó lượng định và nhiều khó khăn đối với ĐBSCL.

 

Thay lời kết:

ĐDSH với tài nguyên sinh vật giàu có và hệ thống cảnh quan phong phú luôn là nền tảng của sự phát triển ở ĐBSCL không những ở hiện tại, mà sẽ còn quan trọng hơn khi vùng kinh tế này chuyển mạnh sang thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Cũng chính vì vậy bảo tồn ĐDSH không chỉ là công việc của những nhà sinh học, bảo vệ môi trường; đây còn là nhiệm vụ của mọi ngành, mọi tầng lớp và mọi người. Bảo tồn ĐDSH là để đáp ứng các yêu cầu của phát triển ở tầm cao, vượt lên sản xuất nhỏ lẻ của nền sản xuất còn nặng tính chất tiểu nông, lệ thuộc vào thiên nhiên quá nhiều như hiện nay. Nền sản xuất mới quy mô lớn đòi hỏi nắm bắt đầy đủ các quy luật tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên để có thể chỉnh trị được sông, khai thác được biển, nâng cao năng lực chịu tải của môi trường, giảm thiều được tác động ngày càng to lớn của sự phát triển đối với tự nhiên và đời sống xã hội.

Trước thực tế đó, công tác bảo tồn ĐDSH cũng phải có cách tiếp cận mới hơn, chuyển hướng kịp thời từ khai thác để phát triển sang bảo tồn để phát triển, coi trọng các hoạt động chức năng và giải pháp thực hiện phải cụ thể rõ ràng và hiệu quả hơn. Hoạt động này phải gắn mật thiết với yêu cầu phát triển ở từng địa bàn và theo từng ngành kinh tế xã hội cụ thể. Có như vậy mới hướng dẫn được các hoạt động phát triển phục vụ trở lại cho hoạt động bảo tồn; kế hoạch hành động bảo tồn ĐDSH phải được lồng ghép vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội; coi đầu tư cho bảo tồn ĐDSH là đầu tư cho phát triển, nhất là trong bối cảnh của ĐBSCL.

Một vùng bán đảo với vài cục triệu cư dân đang được đặt giữa 2 gọng kiềm tác động gay gắt, một từ thượng nguồn không dễ thương lượng, điều phối và một từ đe doạ nhãn tiền của biến đổi khí hậu mang tính sống còn, sẽ tự cứu mình như thế nào. Câu hỏi này không phải là chuyện của ngày mai, mà ngày hôm nay mọi người hãy cùng nhau tìm đáp án. Khu Dự trữ Sinh quyển ĐBSCL sẽ phải là ngọn cờ tụ nghĩa và hành động sẽ lả sự đầu tư đúng mức tiền của và trí tuệ từ các bên có liên quan. Các giải pháp kỹ thuật sinh thái- giải pháp kỹ thuật biết tận dụng năng lực to lớn của hệ tự nhiên và tiềm năng dồi dào của ĐDSH- sẽ là cứu cánh trong thích ứng hiệu quả với mọi tác nhân bất lợi chắc chắn sẽ đến trên con đường hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững ĐBSCL.

(Trích Kỷ yếu diễn đàn 1_ Diễn đàn bảo tồn thiên nhiên và văn hoá vì sự phát triển bền vững vùng ĐBSCL TP Cần Thơ, 05/06/2009)