Số lượt truy cập

vvvvvvv
vtoday.gifHôm nay8
vyesterday.gifHôm qua40
vweek.gifTuần này318
vmonth.gifTháng này982
vall.gifTất cả64113

Bảo tồn - Đa dạng sinh học

Bảo tồn đa dạng sinh học để phát triển bền vững Đồng bắng sông Cửu Long

ĐDSH đang chịu nhiều thách thức. Do đó chúng ta cần phải đẩy nhanh trương trình bảo tồn đa dạng sinh học.

GS.TS Đoàn Cảnh

Nghiên cứu viên cao cấp Viện Sinh học nhiệt đới- TP-HCM


Đa Dạng Sinh Học là nguồn sống của Đồng Bằng Sông Cửu Long

Theo Công ước Đa dạng sinh học: “Đa dạng sinh học “- (ĐDSH) là tính chất biến đổi của các cơ thể sống từ tất cả các nguồn bao gồm các hệ sinh thái trên cạn, dưới nước, biển và tất cả phức hợp sinh thái chứa đựng một phần của các hệ sinh thái đó: bao gồm tính đa dạng trong loài, giữa các loài và của các hệ sinh thái. Luật Đa dạng sinh học của Việt Nam (năm 2008) đã diễn đạt ngắn gọn hơn: “Đa dạng sinh học là sự đa dạng về nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái”. Theo đó có thể dễ hiểu hơn, ĐDSH bao gồm toàn bộ những gì liên quan đến sự sống và được phân chia thành ba cấp độ khác nhau: ĐDSH ở cấp độ gen, ĐDSH ở cấp độ loài và ĐDSH ở cấp độ hệ sinh thái.

ĐDSH ở Việt Nam, cũng như ở nhiều khu vực khác trên thế giới, là sự bảo đảm cho cuộc sống của hàng tỷ con người. Các nguồn tài nguyên sinh vật có ý nghĩa sống còn đối với quá trình phát triển kinh tế và xã hội của nhân loại. Vì lẽ đó, ĐDSH ngày càng được công nhận là tài sản vô giá của toàn cầu đối với thế hệ hôm nay cũng như các thế hệ mai sau.

Thật vậy, hàng năm ĐDSH cung cấp cho loài người một lượng sản phẩm có giá trị tương đương 33.000 tỷ USD. Con số này đối với Việt Nam tuy chưa được thống kê đầy đủ nhưng có thể đến chục tỷ USD. Trong số đó, ĐBSCL đóng góp phần quan trọng khi sản lượng nông nghiệp của ĐBSCL chiếm trên 50% cả nước, riêng lương thực xuất khẩu chiếm 90% cây ăn trái và thuỷ sản khoáng 70% so với cả nước. Về mặt văn hoá- xã hội, cuộc sống của con người Việt Nam rất gần gũi thiên nhiên, các loài động thực vật nuôi trồng hay hoang dã và các sản phẩm của chúng đã quen thuộc với mọi người dân, đặc biệt là người dân sống ở vùng nông thôn và miền núi.

Thế nhưng những tổng kết sau hàng thế kỷ phát triển gần đây của xã hội loài người cho thấy, con người với danh nghĩa là để phát triển đang phá huỷ một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá nhất mà không thể thay thế được trên thế giới, đó là ĐDSH. Suy thoái ĐDSH trên trái đất đang hàng ngày, hàng giờ âm thầm phá huỷ khả năng phát triển của loài người (trích tài liệu của Cục Môi trường). Phải chăng đấy là một sự thừa nhận chua xót.


ĐBSCL có nguồn tài nguyên ĐDSH phong phú:

Trên phạm vi quốc tế, toàn bộ ĐBSCL được xem như khu đất ngập nước (ĐNN) rộng lớn, chiếm 9% diện tích lưu vực và đóng góp 11% dòng chảy cho sông Mê Công; dòng sông được xếp hạng là 1 trong 10 sông lớn nhất thế giới, có chiều dài hơn 4.800 km, diện tích lưu vực 795.000 km2, lưu lượng dòng chảy trung bình hàng năm khoảng 15.000 m3/s và tổng lượng dòng chảy hàng năm 475 tỷ m3 tại châu thổ, chảy qua lãnh thổ của 6 quốc gia là Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.

ĐDSH về loài sinh vật ở ĐBSCL tuy đã được nghiên cứu nhiều, nhưng chưa được kiểm kê đầy đủ. Tuy nhiên, sẽ không phải hoài nghi về sự giàu có, phong phú về ĐDSH của vùng đất này, vì ĐBSCL là phần hạ lưu của Tiểu vùng sông MêCông, nơi nổi tiếng cực kỳ đa dạng về mặt sinh học, với khoảng 20.000 loài cây cỏ, 1.300 loài cá, 1.200 loài chim, 800 loài rắn, ếch nhái, 430 loài động vật có vú… nếu tính về chiều dài, dòng Mê Công là con sông có tính chất đa dạng sinh học cao nhất hành tinh, có mật độ thực vật và động vật còn dày đặc hơn cả sông Amazon vùng Nam Mỹ. không phải ngẫu nhiên mà đất ĐBSCL  đã sinh ra hiện tượng bác Ba Phi với những huyền thoại về cây, con trên vùng ĐNN này.

Tính chất phong phú về ĐDSH của vùng lưu vực sông MêCông vừa được nêu bật thêm trong báo cáo mới nhất cua Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên WWF. Theo đó trong khoảng thời gian từ 1997 đến 2007, các nhà khoa học địa phương và quốc tế đã phát hiện thêm 1.068 loài sinh vật mới trong vùng, bao gồm 519 loài cây cỏ, 279 loài cá, 88 loài ếch nhái, 88 loài nhện, không kể đến hàng chục loài rắn rết, thằn lằn, chuột, dơi, chim chóc…  đây quả là một khám phá chưa từng thấy. đóng góp vào các con số đó có đến khoảng trăm loài mới được ghi nhận ở ĐBSCL bởi các nhà khoa học Việt Nam cùng cộng tác với các chuyên gia quốc tế. Những khám phá sinh vật mới đó chủ yếu thuộc các nhóm ốc núi, động vật không xương sống hang động, thực vật núi đá vôi, thằn lằn, ếch nhái, sinh vật biển… cư trú tại các vùng núi và núi đá vôi hiếm hoi còn chưa bị tàn phá nhiều và vùng biển, đảo.

Đặc trưng của quá trình hình thành từ các cuộc tranh chấp sông biển và vị trí địa lý tự nhiên tạo cho ĐBSCL có cấu trúc rất đa dạng về cảnh quan và đó chính là sự đảm bảo cho đa dạng về loài sinh vật nêu trên. Trong các loại sinh cảnh ở ĐBSCL, ĐNN và ĐDSH của ĐNN đã gắn liền với dân tộc Việt Nam qua suốt hàng ngàn năm lịch sử. do vậy chúng đã nhận được quan tâm to lớn của các nhà nghiên cứu. Đã có hàng chục công trình lớn nghiên cứu về hệ thóng phân loại và khuyến nghị các giải pháp quản lý ĐNN đã được công bố. Kết quả cung cấp gần đây của WWF về bản đồ phân chia các vùng cảnh quan ĐNN của ĐBSCL (xem bản đồ) là những thông tin bổ ích.

Ngoài cảnh quan ĐNN còn nhiều loại cảnh quan có giá trị bảo tồn khác, trong số đó phải kể đến Khu hệ núi đá vôi Kiên Lương- Hà Tiên (Kien Giang) nằm trong quần thể núi đá vôi kéo dài từ Kiên Giang- Việt Nam sang Kampot- Campuchia. Chúng phân bổ riêng lẻ dọc biển và đồng bằng, cách xa các khu hệ núi đá vôi khác từ 300 đến 1.000 km và chỉ chiếm một diện tích nhỏ so với hệ thống núi đá vôi của cả nước, nhưng vùng núi đá vôi này được đánh giá có đa dạng sinh học vào bậc nhất thế giới. Tại đây, các nhà khoa học đã tìm được nhiều loài động thực vật đặc hữu và loài mới bổ sung cho danh mục loài sinh vật  của thế giới. kế đến là hệ sinh thái biển với thềm lục địa rộng lớn và hàng nghìn đảo lớn nhỏ là những sinh cảnh chứa đựng tài nguyên ĐDSH chưa thể lượng định hết được.

Hệ thống Rừng đặc dụng (Special- Use Forests) là những diện tích đại diện cho các hệ sinh thái để được bảo tồn lâu dài, chúng bao gồm các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên là một trong những hệ thống các khu bảo vệ ĐDSH được hình thành đầu tiên ở Việt Nam với tổng diện tích các là 111.167,71 ha, chiếm 2,85% tổng diện tích tự nhiên của ĐBSCL. Rừng đặc dụng nhằm đến 3 mục tiêu chủ yếu và lâu dài là: Bảo tồn tài nguyên rừng; Bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước; Bảo tồn các loài đặc hữu, quý hiếm. Ngoài ra, có thể có thêm các mục tiêu về bảo vệ và bảo tồn các giá trị văn hoá, lịch sử, kinh tế, xã hội và môi trường. Cho đến nay, việc quản lý rừng đặc dụng có những vấn đề bất hợp lý cần được điều chỉnh, như:  Mục tiêu bảo tồn, quy mô của khu rừng, việc tổ chức quản lý rừng còn chưa tương xứng với tầm quan trọng của chúng.  


(Trích Kỷ yếu diễn đàn 1_ Diễn đàn bảo tồn thiên nhiên và văn hoá vì sự phát triển bền vững vùng ĐBSCL TP Cần Thơ, 05/06/2009)