Số lượt truy cập

vvvvvvv
vtoday.gifHôm nay7
vyesterday.gifHôm qua50
vweek.gifTuần này379
vmonth.gifTháng này1099
vall.gifTất cả61323

Tin tức

Các khu Dự trữ Sinh quyển trong bối cảnh biến đổi khí hậu

- Tác động của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam và châu thổ sôn Cửu Long - Vai trò của các khu DTSQ - Sử dụng các khu sinh quyển cho giảm thiểu và thích ứng với BĐKH - Các khu DTSQ ở Việt Nam

PGS.TS. Nguyễn Hoàng Trí

Tổng thư ký UBQG Chương trình Con người và Sinh quyển (MAB) Việt Nam

 

1.      Mở đầu

Khu Dự trữ Sinh quyển đang là mô hình phát triển bền vững ở các nước phát triển như Cộng hoà Liên bang Đức, Pháp, Tây Ban Nha. Mặc dù nước ta mới hội nhập mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển thế giới trong một vài năm nhưng chúng ta sẽ “đi tắt đón đầu” áp dụng những ý tưởng tiên tiến, cách tiếp cận hiệu quả để góp phần xây dựng các khu dự trữ sinh quyển của Việt Nam như những mô hình phát triển bền vững trong tương lai. Các khu dự trữ sinh quyển được thành lập góp phần bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên (nước, năng lượng, nông nghiệp và đa dạng sinh học); kiểm soát những tác động có hai của hiện tượng thay đổi khí hậu; phát triển nông thôn bền vững; đô thị hoá bền vững; phòng chống và giảm nhẹ thiên tai.

Về mặt kinh tế, các khu dự trữ sinh quyển góp phần xoá đói giảm nghèo; nâng cao tinh thần và trách nhiệm tập thể trong các hoạt động kinh tế, thương mại; phát triển kinh té đi đôi với bảo vệ môi trường và bảo đảm công bằng xã hội.

Về mặt văn hoá- xã hội, các khu dự trữ sinh quyển thúc đẩy các giá trị tôn trọng các quyền của con người; xây dựng và duy trì hoà bình và an ninh; thúc đẩy bình đẳng giới; bảo vệ sự đa dạng văn hoá; tăng cường sức khoẻ; phòng chống HIV/AIDS; xây dựng thể chế rõ ràng, minh bạch. Trong lĩnh vực giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, các khu dự trữ sinh quyển đang góp phần quan trọng trong quá trình điều phối cũng như thực thi các chiến lược quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu (UNESCO, 1996, 2005)

 

2.      Tác động của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam và châu thổ sông Cửu Long

Những kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy Việt Nam là một trong những nước bị tác động nghiêm trọng nhất bởi biến đồi khi hậu, đặc biệt là hai vùng châu thổ sông Cửu Long và sông Hồng. Các nghiên cứu cho thấy nhiệt độ trung bình tăng 2,50C vào năm 2070, nhiệt độ tăng chủ yếu ở các vùng cao, nhiệt độ tăng ở vùng ven biển khoảng 1,5 0C; nhiệt độ cực tiểu và cực đại cũng tăng, số ngày có nhiệt độ trên 250C cũng tăng lên; hạn hán, năng suất nông nghiệp giảm sút và dịch bệnh tăng lên là hệ quả của sự tăng nhiệt độ. Trong khi đó, ở cả 2 miền Nam và Bắc lượng mưa sẽ giảm đi vào tháng 7 và tháng 8, lại tăng lên vào tháng 9, 10 và 11. ở miền Trung, lượng mưa tăng khoảng 19% vào mùa mưa 2070, trong khi đó lượng mưa ở mùa khô lại giảm đi, hạn hán xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng hơn (MRC, 2009).

Trong hơn 30 năm, mực nước biển ở Việt Nam tăng 5cm, có thể tăng 9 cm vào 2010, 33 cm vào 2050, 45 cm năm 2070 và 1m vào năm 2100 (MONRE, 2003). Thông thường bão đổ bộ vào miền Bắc vào tháng 8, miền Trung tháng 10 và miền Nam là tháng 11. Biến đổi khí hậu làm cho số lượng bão nhiều hơn ở Tây Nam Thái Bình Dương tác đông đến Việt Nam. Nhiệt độ nước bề mặt đại dương tăng làm cho tốc độ gió trong bão tăng và kéo dài. Bão sẽ mạnh hơn, nhất là những năm El Nino. Nếu nước biển tăng 1m vào năm 2011, khoảng 10% dân số đất nước bị ảnh hưởng. thiệt hại kinh tế ước tính 10%GDP. Mực nước biển tăng kết hợp với tăng lượng mưa vào mùa mưa tác động nghiêm trọng đến các vùng đất thấp, ven biển, khoảng 40 ngàn km2 châu thổ bị ngập, trong đó 90% diện tích bị ngập thuộc vùng châu thổ sông Cửu Long với khoảng 18 triệu người (22% dân số cả nước) bị ảnh hưởng. Vùng này cũng có tỷ lệ hộ nghèo cao, ước tính 12 tỉnh với 12 ngàn km2 và dân số 5 triệu người nghèo sẽ bị ảnh hưởng. Hơn 1100 km2 vùng trọng điểm kinh tế sẽ bị ngập.

Tác động của biến đổi khí hậu đối với đồng bằng sông Cửu Long bao gồm những tác động lên nguồn nước, năng suất cây trồng, các hệ sinh thái rừng và thuỷ vực, chăm sóc y tế, cơ sở hạ tầng, năng lượng, công nghiệp. tài nguyên nước đặc biệt bị ảnh hường, lưu lượng nước chảy ra biển đông 505 tỉ m3/ năm, nhưng phân bố không đều 80% vào mùa mưa(5- 6 tháng) còn 20% mùa khô (6-7 tháng). Xâm nhập mặn xảy ra thường xuyên làm cho năng suất nông nghiệp sẽ giảm tới 40% kéo theo nạn thiếu lương thực xảy ra. Xâm nhập măn làm giảm đa dạng loài sinh vật nước lợ và nước ngọt, thay đổi cấu trúc hệ sinh thái. Diện tích rừng ngập mặn sẽ giảm đi do mực nước biển dâng, tăng xói lở, sóng mạnh. Cháy rừng và sâu hại, bệnh dịch xảy ra thường xuyên. Bệnh sốt rét, ký sinh trùng, vi rút… thường xuyên hoành hành (SRV, 2005)

 

3.      Vai trò của các khu dự trữ sinh quyển

Cụm từ “sinh quyển” hiện nay đã trở nên quen thuộc, được sửu dụng rộng rãi và đi vào đời sống quốc tế. tại hội nghị thượng đỉnh Trái Đất về Môi trường tổ chức ta Stockholm, Thuỵ Điển năm 1972, cụm từ “Hội nghị Sinh quyển” thường được nhắc tới khi đánh giá các vấn đề môi trường một cách bao quát và toàn diện do đó việc sử dụng và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên phải đi đôi với phát triển kinh tế, nâng cao mức sống người dân. Cần khuyến khích những cách tiếp cận nghiên cứu và quản lý để đạt được mục tiêu này.

Năm 1969, Ban Tư vấn Khoa học của Chương trình Con người và Sinh quyển đã đề xuất việc thành lập mạng lưới hợp tác trên toàn thế giới bao gồm cả các vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển và các hình thức bảo tồn khác phục vụ cho công tác bảo tồn cũng như đẩy mạnh các công trinh nghiên cứu, giáo dục và đào tạo. các chức năng cơ bản của mạng lưới này bao gồm:

(a)  đóng góp vào việc bảo tồn đa dạng di truyền, loài, hệ sinh thái và duy trì đa dạng sinh học (chức năng bảo tồn);

(b)   tạo điều kiện cho các hoạt động nghiên cứu và giám sát, giáo dục và trao đổi thông tin giữa các địa phương, quốc gia và quốc tế về bảo tồn và phát triển bền vững (chức năng hỗ trợ); và

(c)  Kết hợp chặt chẽ giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế nâng cao mức sống người dân. Đây là nhân tố cơ bản đảm bảo cho sự thành công của công tác bảo tồn (chức năng phát triển)

Như vậy, khu dự trữ sinh quyển sẽ là phòng thí nghiệm sống cho việc nghiên cứu, giáo dục, đào tạo và giám sát các hệ sinh thái nhằm đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương, quốc gia và quốc tế. Hình ảnh chiếc chìa khoá của người Ai Cập cổ đại thể hiện con đường tìm ra sự cân bằng trong cuộc sống đã được thể hiện trong biểu tượng của Chương trình Con người và Sinh quyển (MAB).

 

4.      Sử dụng các khu sinh quyển cho giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu

Về mặt không gian, mỗi khu dự trữ sinh quyển phải quy hoạch thành 3 vùng rõ rệt: vùng lõi, vùng đệm và vùng chuyển tiếp. Mỗi khu dự trữ sinh quyển có thể có một hoặc nhiều vùng lõi, đó là các khu vực dành riêng cho bảo tồn đa dạng sinh học, các hoạt động giám sát, nghiên cứu, giáo dục đảm bảo tác động tối thiểu tới các hệ sinh thái. Các vùng đệm thường bao quanh vùng lõi, phát triển kinh tế trên cơ sở bền vững sinh thái như du lịch môi trường, giáo dục môi trường, vùng chuyển tiếp phía ngoài cùng thực hiện các mô hình phát triển kinh tế, nông nghiệp bền vững, nơi gặp gỡ và cùng làm việc của các nhà khoa học, cán bộ quản lý, các thành phần kinh doanh, hoạt động văn hoá… nhằm quản lý và phát triển bền vững nguồn lợi. Mặc dù được cấu trúc theo vòng đồng tâm và kích thước và bố cục rất mềm dẻo và đa dạng tuỳ thuộc vào tình hình địa phương. Đó chính là điểm cốt lõi của khái niệm khu dự trữ sinh quyển. Sử dụng các khu sinh quyển cho phát triển bền vững bao gồm:

Nguồn tài nguyên thiên nhiên (nước, năng lượng, nông nghiệp và đa dạng sinh học): các khu DTSQ thể hiện mối quan hệ với các vấn đề bảo tồn thiên nhiên và kinh tế, xã hội sẽ giúp cho người học có thể áp dụng những phương pháp mới trong bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên của thế giới, những thứ thiết yếu cho sự phát triển và sống còn của con người.

Ứng phó với biến đổi khí hậu: các khu dự trữ sinh quyển góp phần nâng cao nhận thức về nhu cầu cần phải có sự thống nhất toàn cầu và cần phải có những biện pháp mạnh nhằm giảm thiểu những nguy hại đối với bầu khí quyển và kiểm soát những tác động có hại của hiện tượng thay đổi khí hậu. Nghị định thư Tyoto được LHQ thông qua vào năm 1992 đã nhận được sự cam kết của 160 quốc gia về giảm thiểu lượng khí thài. Tuy nhiên, nghị định này vẫn chưa được chính các quốc gia phải chịu trách nhiệm về 25% lượng khí cacbon thải ra trên toàn cầu thông qua. Giảm thiểu các chất gây hiệu ứng nhà kính chính là phương tiện chủ chốt của quá trình vận động toàn cầu ứng phó với biến đổi khí hậu

 

Bảng giảm thiểu và thích ứng với BĐKH  dựa vào phân vùng các chức năng khu sinh quyển

*Vùng lõi

Nguyên nhân sâu xa Bảo tồn và khôi phục rừng (rừng ngập mặn, rừng tràm)

Giảm thiểu Cung cấp các loại sản phẩm phi gỗ làm thực phẩm, dược phẩm… giảm phụ thuộc vào công nghiệp

Thích ứng Đa dạng loài, hệ sinh thái, cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái

 

* Vùng đệm

Nguyên nhân sâu xa Phát triển hành lang rừng, mô hình nông lâm nghiệp, làng sinh thái

Giảm thiểu Giảm sử dụng năng lượng, 3R (tái chế, tái sử dụng, tiết kiệm), xanh sạch đẹp trong cộng đồng

Thích ứng Đa dạng văn hoá, tạo việc làm, giảm thiên tai

 

*Vùng chuyển tiếp

Nguyên nhân sâu xa Ít sử dụng năng lượng, phát triển hành lang xanh, công viên

Giảm thiểu Giảm sử dụng túi nilon, năng lượng, các trường phổ thông liên kết, các trung tâm học tập cộng đồng, giáo dục về PTBV

Thích ứng Đa dạng việc làm, nguồn thu nhập, chia sẻ kinh nghiệm, thay đổi cách làm, cách tiếp cận…

 

Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và nông thôn: các hoạt động giáo dục ở khu DTSQ đều gắn với những nhu cầu cụ thể về kĩ năng và năng lực nắm bắt các cơ hội kinh tế, cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư nông thôn. Điều này sẽ góp phần giảm thiểu nạn thất học, bỏ học, mù chữ và bất bình đẳng trong giáo dục hiện chiếm tỉ lệ rất cao tại các vùng nông thôn, tương tự như tỷ lệ đói nghèo. Sự mất cân đối giữa thành thị và nông thôn về đầu tư cho giáo dục, về chất lượng dạy và học đang ngày một lớn và cần được điều chỉnh.

Đô thị hoá bền vững: việc phát triển các khu DTSQ sẽ giảm bớt sự căng thẳng của các thành phố đang đối diện với những thay đổi kinh tế- xã hội toàn cầu như toàn cầu hoá, làm tăng vị thế của các thành phố đối với PTBV. Theo đó, một thực tế hiển nhiên đó là các thành phố không chỉ đối mặt với những đe doạ tiềm tàng của PTBV mà còn năm bắt những cơ hội đầy hứa hẹn trong thực hiện tiến bộ kinh tế xã hội và cải thiện môi trường ở địa phương, quốc gia và quốc tế.

Phòng chống và giảm nhẹ thiên tai: các khu DTSQ góp phần giảm nhẹ thiên tai ở những nơi mà cộng đồng dân cư đang phải gánh chịu hay bị đe doạ. Các kinh nghiệm và chương trình trước đây cho thấy những tác động hết sức to lớn và tích cực của giáo dục đối với việc giảm nhẹ nguy cơ thảm hoạ, thiên tai. Ví dụ như trẻ em biết cách đối phó trong trường hợp có lũ lụt, các nhà lãnh đạo học cách cảnh báo kịp thời cho nhân dân và toàn thể xã hội học cách đề phòng trong trường hợp có thiên tai xảy ra. Giáo dục và kiến thức mà giáo dục mang lại đã cung cấp cho xã hội những chiến lược và phương pháp tự cứu và giảm thiểu rủi ro.

Khu dự trữ sinh quyển mang lại một tư duy mới về khoa học bảo tồn, nó không chỉ cho thấy mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên bên trong và xung quanh những khu vực đó mà còn thể hiện cách làm sao cho hài hoà, đáp ứng những nhu cầu xã hội tiến tới một tương lai bền vững. Trong chiến lược Seville 1995, hai cách tiếp cận mới đã được thông qua đó là rà soát lại những bài học kinh nghiệm trong quá khứ trong việc thực hiện những tư duy mới về khu dự trữ sinh quyển và nhấn mạnh tính chất hài hoà của ba chức năng cơ bản của khu dự trữ sinh quyển (bảo tồn, phát triển vả cung cấp dịch vụ). hội nghị Seville đã đề ra 10 điểm xác định phương hướng cơ bản trong việc phát triển các khu dự trữ sinh quyển trong những năm tới.

5.      Các khu dự trữ sinh quyển ở Việt Nam

Chỉ trong vòng 9 năm (2000- 2009), Việt Nam đã gia nhập các hoạt động quốc tế trong chương trình “con người và sinh quyển” viết tắt là MAB của tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục của LHQ (UNESCO) với sự đóng góp 8 khu dự trữ sinh quyển thế giới (DTSQ) , đó là:

-         Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh (Khu DTSQ Cần Giờ) được thế giới công nhận ngày 21/01/2000; tổng diện tích 71.370 ha; dân số 57.403 người

-         Khu dự trữ sinh quyển Cát Tiên (Khu DTSQ Cát Tiên) thuộc các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Lâm Đồng và Đắc Lắc; được thế giới công nhận ngày 10/11/2001;tổng diện tích 728.756 ha; dân số khoảng 170.500 người

-         Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà (Khu DTSQ Cát Bà), TP Hải Phòng; được thế giới công nhận ngày 02/12/2004; tổng diện tích 26.241 ha; dân số 10.673 người

-         Khu dự trữ sinh quyển đất ngập nước ven biển liên tình châu thổ sông Hồng (khu DTSQ châu thổ sông Hồng), thuộc 5 huyện Thái Thuỵ, Tiền Hải (tỉnh Thái Bình); Giao Thuỷ, Nghĩa Hưng (tỉnh Nam Định) và Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình); được thế giới công nhận ngày 02/12/2004; tổng diện tích 105.577 ha; 128.075 người.

-         Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang (Khu DTSQ Kiên Giang), tỉnh Kiên Giang, được thế giới công nhận ngày 27/10/2006; tổng diện tích 1.188.105 ha; dân số 352.893 người.

-         Khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An (Khu DTSQ Tây Nghệ An), tỉnh Nghệ An, được thế giới công nhận ngày 18/09/2007; tổng diện tich1.303.285 ha; dân số 473.822 người

-         Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm- Hội An (Khu DTSQ Cù Lao Chàm- Hội An), tỉnh Quảng Nam, được thế giới công nhận ngày 26/05/2009; tổng diện tích 33.146 ha, dân số 83.792 người

-         Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau (Khu DTSQ Mũi Cà Mau), tỉnh Cà Mau, được thế giới công nhận ngày 26/05/2009; tổng diện tích 371. 506 ha; dân số 170.321 người

Dưới áp lực từ các hoạt động kinh tế do phải đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, các vấn đề môi trường đang trở nên nghiêm trọng đe doạ các nguồn tài nguyên , đặc biệt là đất và nước, làm giảm đi trông thấy đa dạng số loài động thực vật, cảnh quan và các hệ sinh thái. Sự suy giảm đa dạng sinh học lại đang tác động trở lại cuộc sống hàng ngày của người dân trong các vấn đề như lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nguyên liệu cho công nghiệp, xây dựng… vai trò của đa dạng sinh học trong cuộc sống của con người là không thể thay thế được nhất là đối với các hoạt động giáo dục, nghiên cứu khoa học. các vùng lõi và vùng đệm của các khu dự trữ sinh quyền đang được xem như các phòng thí nghiệm sống về đa dạng sinh học cho các vùng địa lý sinh học chính trong nước và quốc tế. Các khu dự trữ sinh quyển đang góp một phần quan trọng trong sự cân bằng sinh thái như hạn chế xói lở, làm cho đất đai màu mỡ, điều hoà khí hậu, hoàn thiện các chu trình dinh dưỡng, hạn chế ô nhiễm nước và không khí và còn nhiều chức năng khác nữa.

 

Kết luận

Sử dụng các khu dự trữ sinh quyển để ứng phó với biến đổi khí hậu chính là các công trình nghiên cứu khoa học. mỗi khu dự trữ sinh quyển là địa điểm lý tưởng cho các đề tài nghiên cứu về cấu trúc và động thái các hệ sinh thái tự nhiên, đặc biệt là ở các vùng lõi, tạo điều kiện cho việc so sánh các hệ sinh thái tự nhiên với các hệ sinh thái bị biến đồi do các tác động của con người. các nghiên cứu này có thể tiến hành theo dõi trong một thời gian dài trên cơ sở các trạm giám sát cho phép chúng ta thấy được những thay đổi theo thời gian cũng như các thay đổi hiện đang diễn ra trong nước và quốc tế.

Người dân sống trong các khu dự trữ sinh quyển vẫn được phép duy trì các hoạt động truyền thống của họ để tạo nguồn thu nhập hàng ngày qua việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật bền vững về môi trường và văn hoá. Các biện pháp kỹ thuật và canh tác truyền thống có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo tồn các loài sinh vật bản địa, đó chính là kho lưu trữ nguồn vốn gen di truyền phục vụ cho công tác chọn giống và di sản di truyền cho các thế hệ mai sau.

Các khu dự trữ sinh quyển đang tạo điều kiện dễ dàng cho việc trao đổi kinh nghiệm và chia sẻ kiến thức về phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên. Mục đích chính của các khu dự trữ sinh quyển là nghiên cứu và tìm ra các giải pháp sử dụng đất giúp cho việc nâng cao mức sống cho người dân mà không gây hại đến môi trường. các khu dự trữ sinh quyển cũng là nơi chia sẻ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm ở các quy mô quốc gia, khu vực và quốc tế. đồng thời, các khu dự trữ sinh quyển đang tạo điều kiện dễ dàng cho việc hợp tác trong giải quyết các vấn đề liên quan quản lý tài nguyên thiên nhiên. Đây là điểm hẹn lý tưởng cho các nhà khoa học, các cán bộ quản lý, các nhà tổ chức, các cá nhân muốn gặp gỡ, trao đổi về các giải pháp trong môt cơ chế điều hành thống nhất. Các khu dự trữ sinh quyển là những mô hình tốt cần được  nhân lên ở nhiều nơi.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Mekong River Commission (MRC), 2009. Adaption to climate change in the countries of the Lower Mekong Basin. Regional synthesis report, MRC Technical Paper, No 14, Sep 2009

Socialist Republic of Vietnam, 2004. Decision of PM on issuing the Vietnam’s Strategy for Sustainable Development (Vietnam Agenda 21) No. 153/2004/ QD- TTg, on 17/08/2004

Sustainable Development Office/ Vie Project/ 01/021/2006. Sustainable Development in Vietnam, Hanoi, 2006

Socialist Republic of Vietnam, 2006. The plan of socio- economic development for 5 years 2006- 2010, Hanoi, November, 2006.

UNESCO, 2005. Promotion of a global partnership for the UN Decade of Education for Sustainable Development (2005- 2014)

UNESCO, 1996. The Seville Strategy and the Statutory Framework of the World Network UNESCO, Paris, 1996


Kỷ yếu diễn đàn II

Diễn đàn bảo tồn thiên nhiên và văn hoá vì sự phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long

Kiên Giang, 23/06/2010



Các bài viết khác