Số lượt truy cập

vvvvvvv
vtoday.gifHôm nay36
vyesterday.gifHôm qua60
vweek.gifTuần này138
vmonth.gifTháng này874
vall.gifTất cả60090

Giới thiệu tóm tắt về Khu Dự trữ Sinh quyển Kiên Giang

GIỚI THIỆU TÓM TẮT KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN TỈNH KIÊN GIANG VÀ HOẠT ĐỘNG BƯỚC ĐẦU MỘT SỐ DỰ ÁN ĐẠT HIỆU QUẢ

I. GIỚI THIỆU TÓM TẮT KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN TỈNH KIÊN GIANG

Tỉnh Kiên Giang là tỉnh nằm ở bờ biển và biên giới phía Tây Nam của Tổ quốc, thuộc vùng đồng bằng, rừng, núi, biển, đảo. Diện tích tự nhiên: 6.346 km2, tổng số 1, 726 triệu người (2008) , có toạ độ địa lý từ 104040 đến 10503240 kinh độ Đông và Đông Nam giáp các tỉnh An Giang, Cần Thơ, HẬu Giang, phía Nam giáp tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, phía Tây giáp Vịnh Thái Lan với bờ biển dài 200km và phía Bắc giáp Campuchia với đường biên giới đất liền dài 56,8 km. Địa hình phần đất liền tương đối bằng phẳng có hướng thấp dần  từ hướng phía Đông Bắc (có độ cao trung bình từ 0,8- 1,2 m) xuống Tây Nam (độ cao trung bình từ 0,2- 0,4m) so với mặt biển, đồng thời tạo nhiều kênh rạch, sông ngòi. Đặc điểm địa hình này cùng với chế độ thuỷ triều biển Tây chi phối rất lớn khả năng tiêu úng về mùa mưa và bị ảnh hưởng lớn của mặn vào các tháng mùa khô. Vùng biển có hai huyện đảo với hơn 140 hòn đảo lớn nhỏ.

Được sự giúp đỡ của Uỷ ban quốc gia UNESCO của Việt Nam và Uỷ ban quốc gia con người và sinh quyển (MAB) Việt Nam, năm 2004 tỉnh Kiên Giang đã chủ dộng phối hợp với Trung tâm nghiên cứu và giáo dục môi trường, ĐHSP Hà Nội xây dựng hồ sơ trình UNESCO công nhận khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang. Qua 3 năm, tỉnh đã tổ chức nhiều hội thảo, hội nghị tranh thủ nhiều ý kiến đóng góp các đại biểu, các chuyên gia trong và ngoài nước, đến nay Hội đồng Điều phối Quốc tế về chương trình Con người và sinh quyển họp tại Paris ngày 23- 27/10/2006 đã quyết định chính thức công nhận Khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang thuộc mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Khu Dự trữ Sinh quyển (DTSQ) tinh Kiên Giang được đề cử với ba vùng lõi thuộc Vườn quốc gia (VQG) U Minh Thượng, VQG Phú Quốc, và Rừng phòng hộ ven biển Kiên Lương- Kiên Hải. tổng diện tích của khu DTSQ  Kiên Giang là 1.118.105 ha, bao gồm: khu vực U Minh Thượng 148.758 ha; khu vực Phú Quốc 304.933 ha; ; khu vực Kiên Lương- Kiên Hải- Hà Tiên 734.415 ha, có diện tích và cấu trúc không gian, như sau:

 

Một số thông tin cơ bản về Khu DTSQ Kiên Giang:

- Vĩ độ: 90240.75 đến 1003145.54 Bắc

- Kinh độ 103044’23.64 đến 10501948.28 Đông

- Diện tích tự nhiên 1118.105 ha

Bao gồm

* Khu vực U Minh Thượng. Diện tích 148.758 ha

* Khu vực Phú Quốc. Diện tích 304.933 ha

* Khu vực Kiên Lương- Kiên Hải- Hà Tiên. Diện tích 734.415 ha

Diện tích và cấu trúc không gian

*Diện tích của vùng lõi:

- Diện tích vùng lõi trên cạn/ đất liền: 23.073 ha;

- Diện tích vùng lõi trên biển: 13.862 ha

* Diện tích vùng đệm

- Diện tích vùng đệm trên cạn/ đất liền: 116.791 ha;

- Diện tích vùng đệm trên biển: 55.787 ha

* Diện tích vùng chuyển tiếp

- Diện tích vùng chuyển tiếp trên cạn: 189.439 ha

- Diện tích vùng chuyển tiếp trên biển: 789.152 ha

 

Chức năng của khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang, như sau:

*Bảo tồn cảnh quan, hệ sinh thái, đa dạng loài và gen:

Khu dự trữ sinh quyển (DTSQ) tỉnh Kiên Giang được đề cử với ba vùng lõi thuộc vườn quốc gia (VQG) U Minh Thượng, VQG Phú Quốc và Rừng phòng hộ ven biển Kiên Lương- Kiên Hải. Tổng diện tích của khu DTSQ Kiên Giang là 1.118.105 ha

Đảo Phú Quốc nằm trong vịnh Thái Lan, cách đất liền 40 km về phía Tây. Ngày 9/8/1976, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định số 194/CT về việc đề xuất thiết lập 5.000 ha khu bảo tồn thiên nhiên (MARD,  1997). Phạm vi quản lý khu vực này sau được giao cho Vườn quốc gia theo quyết định số 91/QĐ/ TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8/6/2001, VQG Phú Quốc có diện tích 31.422 ha.

Năm 1994, Quỹ động vật hoang dã và Viện hải dương học đã tiến hành điều tra về đa dạng sinh học ở một số hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi quần đảo An Thới phía Nam đảo Phú Quốc, sau đó 2 tổ chức này đề xuấy thiết lập khu bảo tồn biển An Thới. Năm 1998 bộ KHCN&MT nay là Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất thiết lập khu bảo tồn biển. Đến năm 1999, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đã đề nghị sát nhập khu bảo tồn thiên nhiên Phú Quốc và khu bảo tồn biển đề cử An Thới là một và mở rộng diện tích thành Khu bảo tồn thiên nhiên Phú Quốc- An Thới có diện tích 33.657 ha, bao gồm 14.957 ha trên cạn và 18.700 ha trên biển

 

*Về đa dạng cảnh quan:

Bảo vệ mẫu cảnh quan tiêu biểu và độc đáo rừng Tràm (Melaleuca) trên đất than bùn của hệ sinh thái úng phèn khu vực U Minh Thượng, vùng đất ngập nước quan trọng của vùng hạ lưu sông Mê Công.

Riêng khu vực đảo Phú Quốc có nhiều sông suối, đặc biệt là các bãi tắm chạy dài dọc bờ biển như Giếng Ngự, Bãi Khem, Bãi Vòng, Bãi Sao, Bãi Thơm, Bãi Vũng Bầu, Bãi Cửa Cạn, Bãi Dài tạo nên một quần thể du lịch sinh thái hấp dẫn.

Kiên Lương- Hòn Chông- Kiên Hải, được xem như là bán đảo với hơn 30% diện tích là đồi núi và hải đảo, còn lại là rừng ngập mặn ven biển và rừng tràm ngập nước theo mùa vùng Tứ giác Long xuyên. Nơi đây, ngoài ý nghĩa về mặt quốc phòng, còn có ý nghĩa về mặt du lịch với nhiều địa danh nổi tiếng đi vào lịch sử (Mo So, Hang cá sấu, Chùa Hang, Hòn Phụ Tử, Núi Con Nai, Núi Num Bô, Núi Sơn Trà, Hòn Chông, Hòn Trẹm,…)

*Đa dạng hệ sinh thái:

Khu dự trữ sinh quyển đề xuất là nơi tập trung nhiều hệ sinh thái rừng nhiệt đới:

Hệ sinh thái rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh với ưu thế cây họ Dầu (Dipterocarpaceae).

·        Hệ sinh thái rừng trên núi đá với ưu thế của Ổi rừng (Trestonia mergvensis) và Hoàng Đàn (Dacrydium pierrei).

·        Hệ sinh thái rừng ngập chua phèn ( Tràm, Melaleuca cajuputi)

·        Hệ sinh thái rừng ngập mặn (Đước, sú, vẹt, mắm…) đặc biệt là loài cóc đỏ Limmitzera rosea (Gaud), Presl còn sót lại duy nhất ở Việt Nam)

·        Hệ sinh thái rú bụi ven biển

·        Hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển

 

*Đa dạng loài và vốn gen:

Rừng Tràm là loại rừng phát sinh đầu tiên trên vùng đất sét và tích luỹ xác thực vật, vỏ thân, lá, cành của chính bản thân cây Tràm (Melaleuca cajuputi) và các loài thực vật khác, đặc biệt là dương xỉ trong điều kiện thiếu khí oxi hình thành nên than bùn. Quá trình đó diễn ra lâu dài và nâng cao dần mặt đất rừng. Sau đó các loài cây khác như Mốp (Alstonia spathulata), Bùi (lexcymosa), Trâm (Syzygium cinereum) mới xuất hiện và hình thành nên Vồ Mốp, Vồ Dơi.

Theo các nhà khoa học thì Ưu hợp Tràm trên đất than bùn và Ưu hợp rừng hỗn giao: Mốp, Trâm, Tràm trên đất U Minh Thượng là những ưu hợp rừng tự nhiên ở giai đoạn cực đỉnh nguyên sinh trong hệ sinh thái rừng úng phèn còn sót lại của Việt Nam, vì thế nó có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu và bảo tồn.

Thực vật Phú Quốc mang nét đặc của vùng hải đảo, nơi tập trung 3 luồng thực vật di cư: hệ thực vật Mã Lai- Indonesia, Hymalaisia- Vân Nam, Quì Châu Trung Quốc và hệ thực vật Ấn Độ- Miến Điện. Thực vật nơi đây phong phú về thành phần loài, nhiều loài quý hiếm, đặc hữu có giá trị cho nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen và kinh tế. Trong 42 loài được ghi vào sách đỏ, có 11 loài tuyệt chủng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng (Ex, E), 20 loài quý hiếm (R), 8 loài bị đe doạ (T) và 3 loài nguy cấp (V). Theo điều tra, ở Phú Quốc có 529 loài thực vật thuộc 118 họ và 365 chi, trong đó có 8 loài đặc hữu, đặc biệt có 2 loài mới cho khoa học là Ceremium phuquoensis Phamh nov sp và loài Porphyra tanake Phamh nov sp thuộc họ Rhydophyceae

Khu vực Kiên Lương- Kiên Hải, thực vật rừng chịu ảnh hưởng của hai luồng thực vật: Luồng thực vật Mã Lai- Indonesia, luồng thực vật Ấn Độ- Miến Điện và chịu ảnh hưởng của các loài cây bản địa. Hệ thực vật nơi đây có 182 loài thuộc 59 họ, thực vật trong vùng ngập mặn có 39 loài ưu thế là cây mắm, đước…. thực vật rừng Tràm có 47 loài, thuộc 30 họ, với cây Tràm là loài ưu thế.

Khu hệ động vật ở U Minh Thượng tuy không giàu so với các khu bảo vệ khác ở Việt Nam, nhưng lại có ý nghĩa quan trọng đối với hệ sinh thái rừng ngập nước úng phèn và khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, đặc biệt các nhà khoa học phát hiện được loài Rái cá lông mũi (Lutra Sumatrana) là loài hiếm ghi trong Sách Đỏ động vật Việt Nam và sách đỏ IUCN.

 

II. HOẠT ĐỘNG BƯỚC ĐẦU MỘT SỐ DỰ ÁN ĐẠT HIỆU QUẢ

 

1. Dự án khai thác bền vững đồng cỏ bàng kết hợp bảo tồn nghề thủ công địa phương tại xã Phú Mỹ, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang

a) Thời gian thực hiện dự án:

·        Giai đoạn 1: 2005- 2006

·        Giai đoạn 2: 2007- 2009

b) Mục tiêu dự án như sau:

- Bảo tồn, quản lý đồng cỏ bàng vùng dự án một cách có hiệu quả và bền vững.

- Bảo tồn và phát triển nghề thủ công truyền thống địa phương, góp phần nâng cao đời sống của người dân địa phương

c) Quy mô dự án:

- Sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ nguyên liệu cỏ bàng đạt năng suất 120.000 nón và 40.000 giỏ xách trong năm thứ nhất, từ năm thứ 5 trở đi đạt được 1.200.000 nón và 400.000 giỏ xách.

- Các hoạt động tập huấn nâng cao năng lực cho cộng đồng địa phương.

- Các hoạt động hỗ trợ kinh tế phụ nông thôn: chăn nuôi, cải tiến hệ thống canh tác.

- Các hoạt động phục hồi, bảo tồn và phát triển đồng cỏ bàng và các sinh cảnh tự nhiên khác trong khu vực.

d) Vốn đầu tư:

Vốn nước ngoài 362.000 USD (2005- 2007: 212.000 USD; 2007-2009; 150.000 USD) Do Hội Sếu Quốc Tế đầu tư.

Ngoài ra UBND Tỉnh Kiên Giang đầu tư 500 triệu đồng vốn đối ứng để chuyển giao các mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế: mô hình sản xuất giống lúa mới, mô hình thâm canh cỏ bàng, mô hình chăn nuôi trâu bò sinh sản, mô hình chăn nuôi heo, mô hình trồng rau an toàn… các mô hình chuyển giao đã làm nâng cao nhận thức cho bà con nông dân vùng đồng bào dân tộc Khmer, ứng dụng các tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào sản xuất trong nông nghiệp phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư.

e) Những thành công và kết quả đạt được:

- Tập huấn đào tạo tay nghề cho công nhân và các hộ nông dân trong vùng dự án: Dự án đã tổ chức nhiều đợt tập huấn cho công nhân và nông dân trong vùng dự án các nghề như: nghề đan nón 80 người, nghề may giỏ 50 người; Nghề dệt chiếu bằng cỏ bàng 100 người, đào tạo kỹ thuật nhuộm bàng và dạy đan các loại hoa văn mới; Đào tạo nhân lực trong khâu quản lý…

- Đầu tư nhà xưởng cơ sở vật chất kỹ thuật: dự án đầu tư xây dựng nhà xưởng trên quy mô diện tích 1000 m2 bao gồm các hạng mục: Nhà xưởng, nhà làm việc, sân phơi, bể nước mưa, xưởng dệt, kho chứa. máy móc thiết bị, dự án đã đầu tư trang bị máy tính, máy in, máy fax, bàn ghế, tủ và các dụng cụ phục vụ cho văn phòng và trang bị 20 máy bay, 1 máy ép bàng, 3 xe gắn máy, 1 xuồng máy phục vụ cho đi lại và liên hệ công tác

- Hoạt động bảo tồn: ghi nhận và bảo tồn Sếu đầu đỏ, năm 2007 số lượng Sếu về trong khu dự án bảo tồn gia tăng 102 con, năm 2008 với số lượng có hôm đến 174 con, năm 2009 trên 200 con với xu hướng trên cho thấy khu bảo tồn ngày càng trở thành nơi cư ngụ quan trọng cho Sếu đầu đỏ, hạn chế hiện tượng cháy rừng, cháy đồng cỏ, đồng thời giữ ẩm cho đất để cỏ năng- nguồn thức ăn của sếu đầu đỏ phát triển tốt hơn. Năm 2009 sẽ bón phân dưỡng 200 ha bàng

- Năng lực hoạt động và thu nhập: người dân đan đệm tại nhà: 15.000 – 36.000 VNĐ/ ngày/ người, công nhân nhổ Bàng 30.000- 60.000 VNĐ/ ngày/người, CNSX gián tiếp: 40.000- 60.000 VNĐ/ ngày/người, công nhân sản xuất trực tiếp: 25.000 – 80.000 VNĐ/ ngày/người, công nhân dệt chiếu: 30.000 VNĐ/ ngày/người

- Kinh doanh các loại sản phẩm: sản phẩm từ cỏ Bàng sản xuất tại dự án Phú Mỹ chủ yếu như các loại giỏ, khay, thùng, chiếu,… được BQL Dự án chào hàng mẫu cũng như sản xuất đại trà cho các công ty trung gian hoạt động tại TP.HCM và Hà Nội, xuất sang các nước như Nhật, Ý, Đức, Úc, Mỹ, Canada, Chile và Thuỵ Sỹ.

Năm 2007 Dự án được Liên Hiệp Quốc trao giải thưởng “Dubai International Award for Best Practices in Improving Living Environment” tại Dubai, Tiểu Vương Quốc Ả Rập trị giá 30.000 USD, đồng thời 2007 và 2008 được UBND tỉnh tặng bằng khen cho tập thể Ban quản lý dự án.

Tháng 5/2008 tại hội nghị toàn thể lần thứ 9 của công ước Đa dạng sinh học (COP9- CBD) tổ chứ Bonn, CHLB Đức, Dự án đã vinh dự nhận giải thưởng EQUATORPRIZE của cơ quan UNDP Liên Hiệp Quốc

 

2. Dự án: Kết hợp bảo tồn và Phát triển tại các trọng điểm khu Dự trữ sinh quyển tỉnh Kiên Giang

a) Thời gian dự kiến là 03 năm: từ 7/2008- 6/2011

b) Mục tiêu tổng thể dự án: sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Kiên Giang, nâng cao hiệu quả quản lý các khu vực bảo vệ

c) Mục tiêu ngắn hạn: cho giai đoạn I (2008- 2011): quản lý hiệu quả khu vực bảo vệ và rừng phòng hộ ven biển ở tỉnh Kiên Giang

d) Nội dung và kết quả hoạt động chính:

- Xây dựng các mô hình sử dụng đất có hiệu quả trong vùng đệm để nâng cao đời sống cho người dân sống trong vùng tiếp giáp với VQG, vùng đất ngập nước và rừng ngập mặn ven biển.

- Nâng cao nhận thức, hướng dẫn, tập huấn kỹ thuật và khả năng tiếp cận thị trường nhằm tạo thu nhập cho nông dân và ngư dân nghèo

- Nâng cao năng lực và đào tạo về quản lý nước và phòng chống cháy rừng nhằm cải thiện năng suất và duy trì hệ sinh thái

- Xây dựng chiến lược phòng cháy chữa cháy và các giải pháp thay thế việc quản lý nước bằng các trang hiết bị phù hợp cho hoạt động phòng chống cháy rừng.

-  Xây dựng và thực hiện chương trình nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đa dạng sinh học và đất ngập nước cho các cư dân sống trong những vùng trọng điểm của khu Dự trữ sinh quyển

- Nâng cao năng lực thực hiện và quản lý dự án cho các cán bộ trong tỉnh

e) Nguồn vốn dự án cho giai đoạn I (2008- 2011) vốn ODA: Viện trợ không hoàn lại của Úc (được thực hiện thông qua Tổ chức hỗ trợ kỹ thuật Đức- GTZ là 1.630.000 EUR tương đương khoảng 46,402,840,000 VNĐ (theo tỷ giá ngân hàng ngày 13/6/2008).

g) Những hoạt động bước đầu:

 Dự án mới khởi động bắt đầu từ tháng 7/2008cho đến nay. Đã và dang thực hiện một số hoạt động chính như sau:

- Hội thảo lập kế hoạch, tổ chức các cuộc họp tham vấn với nông dân và lãnh đạo các huyện trong khu vực dự án, tổ chức hội thảo chia sẻ kiến thức.

- Xây dựng báo cáo đánh giá hệ động vật, thực vật trong các khu vực trọng yếu. Đã thu thập và lập hồ sơ thông tin hiện có về động thực vật của các khu hệ trọng yếu.

- Thiết lập mô hình sử dụng đất cho các khu vực trọng yếu. đang xây dựng mô hình quản lý rừng ven biển ở huyện Hòn Đất.

- Xây dựng năng lực và tập huấn chuyên môn các hoạt động tạo thu nhập và cải thiện chuỗi giá trị để tìm ra phương pháp cải thiên giá trị của cây tràm nội.

- Các chiến dịch nâng cao nhận thức về môi trường cùng thực hiện với dự án Sóc Trăng. Đã phối hợp đài phát thanh truyền hình phát sóng trên vô tuyến.

Xây dựng và thử nghiệm kế hoạch quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và hướng dẫn kỹ thuật duy trì- cải thiên đa dạng sinh học ở 3 khu vực trọng điểm. Dự án đã tổ chức hội thảo tập huấn về phương pháp sử dụng GPS phục vụ công tác quản lý đất đai các huyện.

- Xây dựng và thử nghiệm việc phòng và chống cháy rừng ở VQG U Minh Thượng và Phú Quốc, đã hoàn tất điều tra hiện trạng quản lý cháy rừng.

- Cải thiện việc xây dựng năng lực về lập kế hoạch, thiết kế dự án và quản lý được cải thiện. cán bộ tỉnh đã tham dự các hội thảo: Hội thảo lập nghiệp vùng (TFF), hội thảo về AIDS (GTZ); hội thảo chuyên môn về rừng ngập mặn Quốc gia (GTZ- Sóc Trăng); hội thảo xây dựng tên thương hiệu ở Hà Nội

- Quản lý: Dự án đã chia sẻ thông tin thường xuyên với các đối tác địa phương.

  Ths. Nguyễn Văn Được
BQL Khu Dự trữ Sinh quyển Kiên Giang
(Kỷ yếu diễn đàn 1_ Diễn đàn bảo tồn thiên nhiên và văn hoá vì sự phát triển bền vững vùng ĐBSCL TP Cần Thơ, 05/06/2009)